Hướng dẫn của ESC 2022 về quản lý bệnh nhân rối loạn nhịp thất và phòng ngừa đột tử do tim (Số 1) – P1

0
67

TS. PHẠM HỮU VĂN

 

Được phát triển do lực lượng đặc nhiệm quản lý bệnh nhân rối loạn nhịp thất và ngăn ngừa đột tử do tim của Hiệp hội Tim Mạch Châu Âu (ESC), Được Hiệp hội Tim Mạch Nhi khoa và Bẩm sinh Châu Âu (AEPC) xác nhận, ngày 26-08-2022 ESC đã cho xuất bản Hướng dẫn quan trọng này. Chúng tôi xin tóm tắt toàn bộ Hướng dẫn và sẽ lần lượt đăng trên các kỳ của Chuyên đề Tim Mạch Học. Trân trọng giới thiệu cùng các quý đồng nghiệp.

I. MỞ ĐẦU

Tóm tắt Hướng dẫn và đánh giá các bằng chứng sẵn có với mục đích hỗ trợ các nhà chuyên môn y tế trong việc đề xuất các chiến lược quản lý tốt nhất cho từng bệnh nhân với một tình trạng cụ thể.

Các hướng dẫn và khuyến cáo nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra quyết định của các nhà chuyên môn y tế trong thực hành hàng ngày của mình. Tuy nhiên, các hướng dẫn không thể thay thế cho mối quan hệ của bệnh nhân với bác sĩ của họ. Các quyết định cuối cùng liên quan đến một bệnh nhân phải được đưa ra do (các) nhà chuyên môn y tế có trách nhiệm, dựa trên những gì họ cho là phù hợp nhất trong các tình huống. Các quyết định này được đưa ra với sự tham vấn của bệnh nhân và người chăm sóc khi thích hợp.

Bảng 1. Class các khuyến cáo

  Định nghĩa Theo cách sử dụng
 

Class I

Bằng chứng và / hoặc thỏa thuận chung rằng một phương pháp điều trị hoặc thủ tục nhất định là có lợi, hữu ích, hiệu quả. Được khuyến cáo hoặc được chỉ định.
Class II Bằng chứng mâu thuẫn và / hoặc ý kiến khác nhau về tính hữu ích / hiệu quả của phương pháp điều trị hoặc thủ tục đã cho.
           Class IIa Cân nhắc bằng chứng / ý kiến nghiêng về tính hữu ích / hiệu quả. Nên được xem xét (Should be considered)
           Class IIb Tính hữu dụng / hiệu quả ít được xác lập rõ ràng bằng bằng chứng / ý kiến Có thể được xem xét (May be considered)
Class III Bằng chứng hoặc đồng thuận chung về phương pháp điều trị hoặc thủ thuật đã cho không hữu ích / hiệu quả và trong một số trường hợp có thể có hại. Không được khuyến cáo

 

Bảng 2. Mức độ bằng chứng

Mức độ bằng chứng A Dữ liệu thu được từ nhiều nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên hoặc phân tích tổng hợp.
Mức độ bằng chứng B Dữ liệu thu được từ một nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên đơn lẻ hoặc các nghiên cứu lớn không ngẫu nhiên.
Mức độ bằng chứng C Sự nhất trí của ý kiến của các chuyên gia và / hoặc các nghiên cứu nhỏ, nghiên cứu hồi cứu, đăng ký.

 

Các hướng dẫn dành cho các nhà chuyên môn y tế sử dụng. Để đảm bảo  tất cả người dùng đều có quyền truy cập vào các khuyến cáo gần đây nhất, ESC cung cấp miễn phí các hướng dẫn của mình. ESC lưu ý các độc giả ngôn ngữ kỹ thuật có thể bị hiểu sai và từ chối mọi trách nhiệm về mặt này.

Nhiều hướng dẫn đã được ESC ban hành trong những năm gần đây. Do tác động của chúng đến thực hành lâm sàng, các tiêu chí chất lượng để phát triển các hướng dẫn đã được thiết lập để làm cho mọi quyết định trở nên minh bạch cho người dùng. Các khuyến cáo về xây dựng và ban hành Hướng dẫn ESC có thể được tìm thấy trên trang web của ESC (https://www.escardio.org/Guidelines). Hướng dẫn ESC thể hiện vị trí chính thức của ESC về một chủ đề nhất định và được cập nhật thường xuyên.

Ngoài việc xuất bản Hướng dẫn Thực hành Lâm sàng, ESC thực hiện Chương trình Nghiên cứu Quan sát châu Âu của các cơ quan đăng ký quốc tế về các bệnh tim mạch và các biện pháp can thiệp cần thiết để đánh giá các quy trình chẩn đoán / điều trị, sử dụng các nguồn lực và tuân thủ các hướng dẫn. Các cơ quan đăng ký này nhằm mục đích cung cấp sự hiểu biết tốt hơn về thực hành y tế ở Châu Âu và trên toàn thế giới, dựa trên dữ liệu chất lượng cao được thu thập trong quá trình thực hành lâm sàng thông thường.

Hơn nữa, ESC phát triển các bộ chỉ số chất lượng (QI), là các công cụ để đánh giá mức độ thực hiện các hướng dẫn và có thể được ESC sử dụng, bệnh viện, nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và các nhà chuyên môn để đo lường thực hành lâm sàng và trong các chương trình giáo dục, cùng với các thông điệp chính từ các hướng dẫn, để cải thiện chất lượng chăm sóc và kết quả lâm sàng.

Các thành viên của lực lượng đặc nhiệm này đã được ESC lựa chọn để đại diện cho các chuyên gia liên quan đến việc chăm sóc y tế cho bệnh nhân mắc bệnh lý này. Thủ tục lựa chọn nhằm đảm bảo có sự kết hợp đại diện của các thành viên chủ yếu từ toàn bộ khu vực ESC và từ các Cộng đồng chuyên ngành liên quan của ESC. Sự đa dạng và hòa nhập đã được xem xét, đặc biệt liên quan đến giới tính và quốc gia xuất xứ. Một đánh giá quan trọng của các thủ tục chẩn đoán và điều trị đã được thực hiện, gồm đánh giá tỷ lệ nguy cơ – lợi ích. Mức độ bằng chứng và sức mạnh của việc đề xuất các phương án quản lý cụ thể đã được cân nhắc và cho điểm theo các thang điểm xác định trước, như được nêu trong các bảng 1 và 2. Lực lượng đặc nhiệm đã tuân theo các thủ tục bỏ phiếu của ESC. Tất cả các đề xuất dựa trên biểu quyết đạt được ít nhất 75% trong số các thành viên biểu quyết.

Các chuyên gia của nhóm soạn thảo và đánh giá đã cung cấp các biểu mẫu tuyên bố về lợi ích cho tất cả các mối quan hệ có thể được coi là nguồn xung đột lợi ích thực sự hoặc tiềm ẩn. Các tuyên bố về quyền lợi của họ đã được xem xét theo tuyên bố về các quy tắc lợi ích của ESC và có thể được tìm thấy trên trang web của ESC (http://www.escardio.org/ Guidelines) và đã được tổng hợp trong một báo cáo và xuất bản trong một tài liệu bổ sung đồng thời đối với các hướng dẫn.

Quy trình này đảm bảo tính minh bạch và ngăn ngừa những sai lệch tiềm ẩn trong quá trình phát triển và xem xét. Bất kỳ thay đổi nào trong các khai báo lợi ích phát sinh trong thời gian soạn thảo đều được thông báo cho ESC và cập nhật. Lực lượng đặc nhiệm đã nhận được toàn bộ hỗ trợ tài chính từ ESC mà không có bất kỳ sự tham gia nào từ ngành chăm sóc sức khỏe.

Ủy ban CPG ESC giám sát và điều phối việc chuẩn bị các hướng dẫn mới. Ủy ban cũng chịu trách nhiệm về quá trình phê duyệt các hướng dẫn này. Hướng dẫn ESC được Ủy ban CPG và các chuyên gia bên ngoài xem xét rộng rãi, bao gồm sự kết hợp của các thành viên từ toàn bộ khu vực ESC và từ các Cộng đồng chuyên ngành ESC và Hiệp hội Tim mạch Quốc gia có liên quan. Sau những sửa đổi phù hợp, các hướng dẫn được tất cả các chuyên gia tham gia vào lực lượng đặc nhiệm ký kết. Tài liệu cuối cùng được Ủy ban CPG để xuất bản trên Tạp chí Tim mạch Châu Âu ký xác nhận. Các hướng dẫn được phát triển sau khi xem xét cẩn thận các kiến ​​thức khoa học và y tế và các bằng chứng có sẵn tại thời điểm soạn thảo.

Nhiệm vụ phát triển Hướng dẫn ESC cũng bao gồm việc tạo ra các công cụ giáo dục và chương trình thực hiện cho các khuyến nghị, bao gồm các phiên bản hướng dẫn bỏ túi cô đọng, trang trình bày tóm tắt, thẻ tóm tắt dành cho những người không chuyên và phiên bản điện tử cho các ứng dụng kỹ thuật số (điện thoại thông minh, v.v.). Các phiên bản này được rút gọn và do đó, để biết thêm thông tin chi tiết, người dùng phải luôn truy cập phiên bản toàn văn của hướng dẫn, được cung cấp miễn phí qua trang web ESC và Tạp chí Tim mạch Châu Âu. Các Hiệp hội Tim mạch Quốc gia của ESC được khuyến khích xác nhận, thông qua, dịch và thực hiện tất cả các Hướng dẫn của ESC. Các chương trình thực hiện là cần thiết vì nó đã được chứng minh kết quả của bệnh có thể bị ảnh hưởng thuận lợi do việc áp dụng triệt để các khuyến cáo lâm sàng.

Các nhà chuyên môn sức khỏe được khuyến khích xem xét đầy đủ Hướng dẫn ESC khi thực hiện đánh giá lâm sàng của họ, cũng như trong việc xác định và thực hiện các chiến lược y tế phòng ngừa, chẩn đoán hoặc điều trị. Tuy nhiên, Hướng dẫn ESC không phủ nhận bất kỳ trách nhiệm cá nhân nào của các nhà chuyên môn y tế trong việc đưa ra quyết định phù hợp và chính xác khi xem xét tình trạng sức khỏe của từng bệnh nhân và tham khảo ý kiến ​​của bệnh nhân đó hoặc người chăm sóc bệnh nhân khi thích hợp và / hoặc cần thiết. Các nhà chuyên môn y tế cũng có trách nhiệm xác minh các quy tắc và quy định áp dụng ở mỗi quốc gia đối với thuốc và thiết bị tại thời điểm kê đơn và nếu thích hợp, tôn trọng các quy tắc đạo đức nghề nghiệp của họ.

Việc sử dụng thuốc ngoài nhãn (Off-label) có thể được trình bày trong hướng dẫn này nếu có đủ bằng chứng cho thấy thuốc có thể được coi là phù hợp về mặt y tế đối với một tình trạng cụ thể và nếu bệnh nhân có thể được hưởng lợi từ liệu pháp được khuyến cáo. Tuy nhiên, các quyết định cuối cùng liên quan đến một bệnh nhân phải được thực hiện do các nhà chuyên môn y tế có trách nhiệm, có sự cân nhắc đặc biệt đối với:

(1) Trạng thái cụ thể của bệnh nhân. Về mặt này, người ta quy định, trừ khi có quy định khác của quy định quốc gia, việc sử dụng thuốc ngoài nhãn nên được giới hạn trong các tình huống bệnh nhân phải làm như vậy, liên quan đến chất lượng, an toàn và hiệu quả của việc chăm sóc, và chỉ sau khi bệnh nhân đã được thông báo và đồng ý

(2) Các quy định về sức khỏe của từng quốc gia cụ thể, các chỉ định của các cơ quan quản lý thuốc của chính phủ và các quy tắc đạo đức do các nhà chuyên môn y tế phải tuân theo, nếu có

II. GIỚI THIỆU

Tài liệu này trình bày bản cập nhật của Hướng dẫn ESC 2015 về quản lý bệnh nhân rối loạn nhịp thất (VA) và phòng ngừa đột tử do tim (SCD). Những hiểu biết mới về dịch tễ học của SCD, bằng chứng mới về di truyền, hình ảnh và các phát hiện lâm sàng về phân tầng nguy cơ đối với VA và SCD, và những tiến bộ trong đánh giá chẩn đoán và chiến lược điều trị đã làm cho việc sửa đổi này trở nên cần thiết. Ủy ban bao gồm 25 thành viên trong đó có 23 bác sĩ chuyên gia, một nhà phương pháp và một đại diện bệnh nhân. Các chuyên gia đã được lựa chọn để gồm tất cả các lĩnh vực VA và SCD cũng như các chuyên ngành phụ của tim mạch với sự hỗ trợ của các nhóm công tác ESC liên quan.

Tất cả 25 thành viên của ủy ban đặc nhiệm đã thông qua các đề xuất hướng dẫn sau một quá trình bỏ phiếu kín. Chín mươi chín chuyên gia xem xét lại đã xem xét tài liệu. Một cuộc khảo sát tài liệu có hệ thống đã được tiến hành, theo hướng dẫn của nhà phương pháp trong nhóm, dẫn đến việc kết hợp 1155 tài liệu tham khảo, trong đó 485 tài liệu được chọn để hỗ trợ các khuyến cáo và được chỉ rõ thêm trong bảng bằng chứng (Dữ liệu bổ sung).

1. Có gì mới ?

Các phần chẩn đoán và quản lý của hướng dẫn đã được điều chỉnh để tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng chúng trong việc ra quyết định lâm sàng hàng ngày.

Phần tổng quát đầu tiên có các phần mới về đánh giá chẩn đoán, gồm các thử nghiệm kích thích dược lý, thử nghiệm di truyền và nghiên cứu có hệ thống các bệnh nhân và người thân mắc bệnh điện học nguyên phát. Lưu đồ toàn diện và các khuyến cáo để đánh giá chẩn đoán lần đầu tiên với VA của bệnh nhân không có bệnh tim đã biết trước đây được cung cấp cho năm tình huống lâm sàng thường gặp. Các khuyến nghị thực tế để tối ưu hóa lập trình máy khử rung tim đã được cấy (ICD) và các thuật toán để quản lý bệnh nhân trải qua nhịp tim nhanh phức tạp thường xuyên và cơn bão điện được trình bày (Bảng 3).

Bảng 3. Các phần và khái niệm mới

Các phần và khái niệm mới Phần
Các test kích thích để chẩn đoán 5.1.3.5
Các test di truyền 5.1.4
Đánh giá chẩn đoán khi VA xuất hiện lần đầu ở bệnh nhân không có bệnh tim được biết 5.2
Xử trí bệnh nhân bão điện 6.1.3
Các khía cạnh đặc biệt của điều trị bằng thiết bị 6.2.3

Bảng 4. Các khuyến cáo mới trong năm 2022

Các khuyến cáo Class
Hồi sức cơ bản của cộng đồng và tiếp cận các AED
Người ta khuyến cáo máy khử rung tim tiếp cận công cộng có sẵn tại các địa điểm có nhiều khả năng xảy ra ngừng tim.a I
CPR ngay lập tức do những người ngay bên cạnh (bystander) được khuyến cáo trong OHCA. I
Khuyến cáo tăng cường đào tạo cộng đồng về hỗ trợ cuộc sống cơ bản để tăng tỷ lệ CPR do người bên cạnh và sử dụng AED. I
Cảnh báo dựa trên điện thoại di động về các tình nguyện viên ngay bên cạnh (bystander) được đào tạo hỗ trợ cuộc sống cơ bản để hỗ trợ các nạn nhân OHCA gần đó nên được xem xét. IIa
Điều trị VA. Các khía cạnh chung
Chuyển nhịp bằng DC được khuyến cáo là phương pháp điều trị đầu tay cho những bệnh nhân có SMVT dung nạp với điều kiện là nguy cơ gây mê / an thần thấp.  

I

Điều trị y tế tối ưu bao gồm ACE-I / ARB / ARNIs, MRA, thuốc chẹn beta và thuốc ức chế SGLT2 được chỉ định ở tất cả bệnh nhân suy tim có EF giảm. I
Cấy máy khử rung tim chỉ được khuyến cáo ở những bệnh nhân có kỳ vọng sống sót với chất lượng sống tốt > 1 năm. I
Ở những bệnh nhân có SMVT dung nạp huyết động và SHD đã biết hoặc nghi ngờ, nên được xem xét sử dụng procainamide tiêm tĩnh mạch. IIa
Ở những bệnh nhân có SMVT dung nạp huyết động trong trường hợp không có chẩn đoán xác định, có thể cân nhắc dùng amiodaron tiêm tĩnh mạch. IIb
Ở những bệnh nhân bị SMVT hoặc SPVT / VF được kích hoạt bởi PVC có hình thái tương tự và chỉ định ICD, triệt phá qua catheter có thể được xem xét khi không có ICD, chống chỉ định vì lý do y tế đồng thời hoặc bị bệnh nhân từ chối. IIb

WCD có thể được xem xét trong giai đoạn đầu sau MI ở một số bệnh nhân được chọn.

 

IIb

WCD có thể được xem xét trong giai đoạn đầu sau MI ở một số bệnh nhân được chọn. IIb
Bệnh động mạch vành
Ở các bệnh nhân bị CAD và SMVT tái phát, có triệu chứng, hoặc ICD đánh shock với SMVT mặc dù đã điều trị amiodarone kéo dài, nên triệt phá qua catheter thay vì liệu pháp AAD leo thang. I
Hình ảnh stress tim trong quá trình gắng sưc được khuyến cáo cùng với kiểm tra gắng sức tim phổi sau phẫu thuật ở những bệnh nhân có nguồn gốc động mạch chủ dị thường của động mạch vành với tiền sử CA được cứu thoát. I
Ở những người sống sót sau SCA bị co thắt động mạch vành, việc cấy ICD nên được xem xét. IIa
Liệu pháp ICD nên được cân nhắc ở những bệnh nhân có CAD, NYHA class I, và LVEF ≤30% mặc dù điều trị OMT ≥ 3 tháng. IIa
Cấy ICD nên được xem xét ở những bệnh nhân có CAD, LVEF ≤40% mặc dù OMT ≥ 3 tháng và NSVT, nếu họ có thể gây ra SMVT bằng PES. IIa
Ở những bệnh nhân mắc bệnh CAD và SMVT với huyết động dung nạp tốt và LVEF ≥40%, triệt phá qua catheter ở các trung tâm có kinh nghiệm nên được coi là một giải pháp thay thế cho liệu pháp ICD, miễn là đã đạt được các tiêu chí đã được thiết lập.b IIa
Triệt phá qua catheter nên được xem xét ở những bệnh nhân bị CAD và SMVT tái phát, có triệu chứng hoặc ICD shock với SMVT mặc dù đã điều trị bằng thuốc chẹn beta hoặc sotalol. IIa
PVC/VT nguyên phát và bệnh cơ tim do PVC
Triệt phá qua catheter như là một phương pháp điều trị đầu tay được khuyến cáo cho các VT / PVC nguyên phát có triệu chứng từ RVOT hoặc các bó bên trái.  

I

Thuốc chẹn bêta hoặc CCB không phải dihydropyridine được chỉ định ở những bệnh nhân bị VT / PVC nguyên phát có triệu chứng từ một nguồn gốc khác ngoài RVOT hoặc các bó trái.  

I

Ở những bệnh nhân bị PVCs / VT và biểu hiện không điển hình đối với nguồn gốc nguyên phát, nên xem xét c CMR, mặc dù siêu âm tim bình thường. IIa
Thuốc chẹn bêta, CCBs không phải dihydropyridine hoặc flecainide nên được cân nhắc khi triệt phá qua catheter không có sẵn, không mong muốn, hoặc đặc biệt nguy cơ ở những bệnh nhân có triệu chứng với VT / PVC nguyên phát do RVOT hoặc ở các bó trái.  

IIa

Triệt phá qua catheter hoặc dùng flecainide nên được xem xét ở những bệnh nhân có triệu chứng bị VT / PVC nguyên phát từ một nguồn gốc khác ngoài RVOT hoặc các bó trái. IIa
Ở những bệnh nhân có EF giảm không rõ nguyên nhân và gánh nặng PVC ít nhất 10%, nên xem xét bệnh cơ tim do PVC. IIa

Ở những bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh cơ tim do PVC, CMR nên được xem xét.

IIa
Ở những người không đáp ứng với CRT với PVC thường xuyên, chủ yếu đơn hình làm hạn chế tạo nhịp hai thất tối ưu mặc dù điều trị bằng thuốc, nên cân nhắc triệt phá qua catheter hoặc AAD. IIa
Triệt phá qua catheter có thể được xem xét đối với VT / PVC nguyên phát ở những bệnh nhân không có triệu chứng với nhiều lần hơn 20% PVC mỗi ngày khi theo dõi. IIa
Amiodarone như một phương pháp điều trị đầu tay không được khuyến cáo ở những bệnh nhân bị VTs / PVCs nguyên phát. III
DCM/HNDCM
Thử nghiệm di truyền (bao gồm ít nhất các gen LMNA, PLN, RBM20 và FLNC) được khuyến nghị ở những bệnh nhân có DCM / HNDCM và chậm dẫn truyền AV < 50 tuổi hoặc những người có tiền sử gia đình mắc DCM / HNDCM hoặc SCD ở người thân thế hệ thứ nhất (ở độ tuổi <50 tuổi).  

I

Ở thân nhân thế hệ thứ nhất của bệnh nhân DCM / HNDCM, nên đo điện tâm đồ và siêu âm tim nếu:

• bệnh nhân chỉ định được chẩn đoán <50 tuổi hoặc có các đặc điểm lâm sàng gợi ý nguyên nhân di truyền, hoặc

• tiền sử gia đình bị DCM / HNDCM, hoặc SD sớm không mong muốn.

I
CMR với LGE nên được xem xét ở bệnh nhân DCM / HNDCM để đánh giá căn nguyên và nguy cơ của VA / SCD. IIa
Xét nghiệm di truyền (bao gồm ít nhất các gen LMNA, PLN, RBM20 và FLNC) nên được xem xét để phân tầng nguy cơ ở những bệnh nhân bị DCM / HNDCM rõ ràng, xuất hiện ở tuổi trẻ hoặc có các dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh di truyền.  

IIa

Cấy ICD nên được xem xét ở những bệnh nhân DCM / HNDCM có LVEF <50% và ≥2 yếu tố nguy cơ (ngất, LGE trên CMR, SMVT cảm ứng ở PES, đột biến gây bệnh trên gen LMNA, PLN, FLNC và RBM20).  

IIa

Cấy ICD nên được xem xét ở bệnh nhân DCM / HNDCM và SMVT dung nạp huyết động.  

IIa

Ở thân nhân thế hệ thứ nhất của bệnh nhân DCM / HNDCM không liên tục một cách rõ ràng, có thể xem xét điện tâm đồ và siêu âm tim.  

IIb

Không nên tham gia tập thể dục cường độ cao gồm các môn thể thao cạnh tranh cho những người mắc bệnh DCM / HNDCM và đột biến LMNA. III
ARVC
Ở những bệnh nhân nghi ngờ ARVC, CMR được khuyến cáo. I
Ở những bệnh nhân có chẩn đoán nghi ngờ hoặc xác định ARVC, nên tư vấn và xét nghiệm di truyền.  

I

Cấy ICD nên được xem xét ở những bệnh nhân có triệu chứng với ARVC xác định, rối loạn chức năng thất phải hoặc trái vừa phải, và NSVT hoặc SMVT được tạo ra trong PES.  

IIa

Ở những bệnh nhân ARVC có chỉ định ICD, một thiết bị có khả năng lập trình ATP cho SMVT với tần số cao nên được xem xét.  

IIa

Tránh tập thể dục cường độ cao có thể được xem xét ở những người mang đột biến gây bệnh liên quan đến ARVC và không có kiểu hình.  

IIb

Liệu pháp chẹn beta có thể được xem xét ở tất cả bệnh nhân có chẩn đoán xác định là ARVC. IIb
Ở những bệnh nhân bị ARVC và có các triệu chứng nghi ngờ đối với VA, PES có thể được xem xét để phân tầng nguy cơ. IIb
HCM
CMR với LGE được khuyến cáo ở bệnh nhân HCM để chẩn đoán. I
Tư vấn và xét nghiệm di truyền được khuyến khích ở bệnh nhân HCM. I
Ở thân nhân thế hệ thứ nhất của bệnh nhân HCM, nên sử dụng điện tâm đồ và siêu âm tim.  

I

Cấy ICD nên được xem xét ở bệnh nhân HCM từ 16 tuổi trở lên với nguy cơ SCD trung bình trong 5 năm (≥4 đến, 6%) f, và với (a) LGE đáng kể trong CMR (thường ≥15% khối lượng LV) ; hoặc (b) LVEF <50%; hoặc (c) phản ứng huyết áp bất thường trong quá trình test gắng sức. g; hoặc (d) phình mom LV; hoặc (e) sự hiện diện của đột biến gây bệnh sarcomeric.  

IIa

Ở trẻ em < 16 tuổi mắc HCM và ước tính nguy cơ SD ≥6% trong 5 năm (dựa trên thang điểm HCM Risk-Kids), nên cân nhắc cấy ICD.  

IIa

Ở những bệnh nhân HCM có biểu hiện SMVT dung nạp huyết động, cấy ICD nên được xem xét. IIa
Ở bệnh nhân HCM và VA tái phát, có triệu chứng, hoặc điều trị ICD có triệu chứng tái phát, nên cân nhắc điều trị AAD. IIa
Việc tham gia tập thể dục cường độ cao có thể được xem xét đối với bệnh nhân HCM người lớn không có triệu chứng mà không có dấu hiệu nguy cơ.  

IIb

Cấy ICD có thể được xem xét ở bệnh nhân HCM từ 16 tuổi trở lên với nguy cơ SCD ước tính thấp trong 5 năm (, 4%), f và với (a) LGE đáng kể trong CMR (thường ≥15% khối lượng LV); hoặc (b) LVEF <50%; hoặc (c) phình mỏm LV. IIb
Triệt phá qua catheter ở các trung tâm chuyên khoa có thể được xem xét ở một số bệnh nhân HCM và SMVT tái phát, có triệu chứng, hoặc shock ICD đối với SMVT, những trường hợp AAD không hiệu quả, chống chỉ định hoặc không dung nạp. IIb

 

Vui lòng xem tiếp trong kỳ sau