Bản tin tổng hợp – Tháng 3/2014

0
691

Hiện tại tử vong sau can thiệp Mạch Vành qua da đa phần là do các nguyên nhân ngoài tim

Theo một nghiên cứu lớn, đơn trung tâm: Trong vòng hai thập kỷ qua, nguyên nhân tử vong dài hạn sau can thiệp mạch vành qua da đã chuyển từ nguyên nhân tại tim sang các nguyên nhân ngoài tim.

Các nghiên cứu viên đã xem xét tử vong 5 năm sau can thiệp mạch vành qua da tại Mayo Clinic, Rochester trong khoảng thời gian từ 1991 đến 1996 – là thời kỳ nong mạch máu bằng bóng; từ năm 1997 đến năm 2002 – là thời kỳ dùng stent thường và thời kỳ 2003 đến 2008 – là thời kỳ dùng stent thuốc.

Trong thập kỷ gần đây nhất, chỉ 36,8% tử vong 5 năm sau can thiệp mạch vành qua da là do nguyên nhân tại tim. Dữ liệu cho thấy, trong khi tử vong do nhồi máu cơ tim hoặc ngưng tim đột ngột giảm thì tử vong do suy tim vẫn không thay đổi.

Theo nhóm nghiên cứu, các bệnh nhân được thông tim thường lớn tuổi và có nhiều bệnh phức tạp nên dự đoán là tử vong tim mạch dài hạn sẽ tăng. Các thuốc như chống kết tập tiểu cầu, statin, ức chế beta và ức chế men chuyển dạng angiotensin là những thuốc giúp làm giảm tử vong tim mạch.

Kết quả này có 2 ý nghĩa quan trọng. Một là, cần phải tìm hiểu kỹ hơn về các nguyên nhân tử vong ngoài tim nhằm cải thiện tử vong. Hai là, cần phát minh ra các thuốc và thiết bị mới nhằm làm giảm suy tim.

Nghiên cứu được đăng vào ngày 10 tháng 2 năm 2014 trên Circulation.

Các nghiên cứu về can thiệp mạch vành qua da hiện có từ những đăng ký sổ bộ lớn đã ghi nhận tử vong do mọi nguyên nhân, nhưng tử vong do nguyên nhân đặc hiệu trong dân số này chưa được biết và cần được nghiên cứu.

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện một nghiên cứu hồi cứu gồm khoảng 20.000 bệnh nhân liên tiếp đã thực hiện can thiệp mạch vành qua da tại Mayo Clinic trong 3 khoảng thời gian 6 năm.

Trong khoảng thời gian này, tuổi trung bình tăng từ 64,7 lên 66,3 và chỉ số Charlson (dùng để đánh giá các bệnh đồng mắc và lợi ích/nguy cơ của một can thiệp y khoa) tăng từ 1,8 lên 2,6. Chỉ định chính của can thiệp động mạch vành qua da thay đổi từ cơn đau thắt ngực ổn định đến hội chứng mạch vành cấp. Tại thời điểm xuất viện, bệnh nhân được kê nhiều hơn các thuốc để phòng ngừa thứ phát như sử dụng ức chế men chuyển tăng từ 19% lên 63% và thuốc hạ lipid máu tăng từ 25% lên 90%.

Trong số 19.077 bệnh nhân còn sống, có 6.988 bệnh nhân (37%) chết trong thời gian theo dõi. Trong 3 khoảng thời gian đó, tử vong tim mạch 5 năm giảm từ 9,8% xuống còn 7,4% và cuối cùng là 6,6% trong khi tử vong do nguyên nhân ngoài tim tăng từ 7,1% lên 8,5% và 11,2%. Khuynh hướng này xảy ra trong tất cả các nhóm tuổi, ở bệnh một nhánh và nhiều nhánh mạch vành và ở bệnh nhân được can thiệp mạch vành qua da vì đau thắt ngực ổn định hoặc hội chứng mạch vành cấp.

Trong kỷ nguyên hiện tại, chỉ 36,8% tử vong dài hạn sau can thiệp mạch vành qua da là do nguyên nhân từ tim: suy tim sung huyết hoặc bệnh tim cấu trúc (12,9%), nhồi máu cơ tim (12%), tử vong tim mạch đột ngột (9,3%) và nguyên nhân phẫu thuật hoặc do các bệnh tim khác (2,6%). Tử vong không do tim chủ yếu là do ung thư (26,2%) và các bệnh mạn tính như suy thận, bệnh phổi, suy gan hoặc suy đa cơ quan, hoặc bệnh thần kinh (16%). Các nguyên nhân ngoài tim khác là bệnh mạch máu, nhiễm trùng, tự tử, chấn thương và tai nạn (19,1%).

Đây là nghiên cứu đầu tiên cho thấy tử vong dài hạn của bệnh nhân là do các nguyên nhân ngoài tim và trong tương lai, cần phải tìm cách giảm tử vong do nguyên nhân ngoài tim.

Kết quả có ý nghĩa nhất trong nghiên cứu là sự chuyển dịch trong nguyên nhân tử vong dài hạn từ các nguyên nhân tim mạch sang các nguyên nhân ngoài tim. Mặc dù nghiên cứu này được thực hiện trên một dân số lớn nhưng kết quả cần phải được cho thấy là có tính lặp lại. Sự thật thì các nguyên nhân ngoài tim chiếm ưu thế của tử vong sau can thiệp mạch vành qua da không còn gây ngạc nhiên vì mặc dù có thành công trong việc làm giảm nguy cơ ngắn hạn do can thiệp mạch vành qua da, các thầy thuốc phải đối mặt với những bệnh nhân lớn tuổi hơn đang chống chọi với bệnh ung thư, bệnh hô hấp, bệnh gan và suy thận chứ không phải là các bệnh lý tim mạch. Vì vậy, một trận chiến mới đang mở ra cho các thầy thuốc.

(Death after PCI now more likely from Noncardiac causes

http://www.medscape.com/viewarticle/820461)

 

 

Sống còn dài hạn sau đột qụy thấp hơn khi huyết áp thấp

 

Theo các nghiên cứu viên từ Úc, mức huyết áp lý tưởng để duy trì sống còn dài hạn sau đột quỵ cần được đánh giá lại. Dữ kiện gần từ 500 bệnh nhân còn sống 5 năm sau đột quỵ lần đầu hoặc đột quỵ tái phát cho thấy mối liên quan dạng hình chữ U giữa huyết áp tâm thu và kết cục.

Những bệnh nhân với huyết áp tâm thu từ 120 mmHg trở xuống có 61% nguy cơ bị đột quỵ, nhồi máu cơ tim cấp hoặc tử vong 10 năm sau đột quỵ so với mức huyết áp tâm thu từ 131 đến 141 mmHg.

Không có khác biệt trong kết cục khi huyết áp tâm thu từ 121 đến 130 mmHg hoặc 142 đến 210 mmHg so với nhóm có huyết áp tâm thu từ 131 đến 141 mmHg.Giải thích hợp lý cho kết quả này là bệnh nhân với huyết áp tâm thu quá thấp có nhiều nguy cơ bị giảm tưới máu não, đưa đến té ngã, đột quỵ và sa sút trí tuệ nhiều hơn. Theo nhóm nghiên cứu, bệnh nhân với mức huyết áp bình thường có kết cục xấu hơn bệnh nhân có mức huyết áp tới hạn. Vì vậy, xác định mức huyết áp phù hợp để tăng sống còn sau đột quỵ là cần thiết.

 

(Lower systolic blood pressure is associated with poorer survival in long-term survivors of stroke

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/24509123)

 

 

FDA một lần nữa từ chối chỉ định Rivaroxaban điều trị Hội chứng mạch vành cấp tính

 

Cơ quan quản lý Thực phẩm và thuốc Hoa Kỳ (FDA) không thông qua đề xuất mở rộng chỉ định cho rivaroxaban (biệt dược Xarelto của Công ty Bayer/Janssen Pharmaceuticals) và rút bỏ khả năng dùng kháng đông đường uống mới này như liệu pháp điều trị bệnh nhân bị Hội chứng mạch vành cấp tính (HCMVCT).

 

FDA đã đưa ra Thư trả lời đầy đủ (complete response letter) tới các nhà sản xuất vào ngày 14/02/2014. Đây là lần thứ ba cơ quan này từ chối “bổ sung ứng dụng mới của thuốc” đối với rivaroxaban dùng cho bệnh nhân bị hội chứng mạch vành cấp tính, nhưng quyết định này không có gì đáng ngạc nhiên nếu căn cứ vào cuộc họp Ủy ban tư vấn của FDA tháng trước.

 

Vào tháng 1/2014, Ủy ban tư vấn của FDA về Thuốc tim mạch và thận đã gần như nhất trí không phê chuẩn việc dùng rivaroxaban như một liệu pháp điều trị những bệnh nhân bị HCMVCT, với 10 thành viên bỏ phiếu chống lại đề xuất phê chuẩn và 1 thành viên bỏ phiếu trắng.

 

Cùng với việc từ chối “bổ sung ứng dụng mới của thuốc” đối với rivaroxaban trong điều trị bệnh nhân bị HCMVCT để giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc tử vong, FDA cũng từ chối ứng dụng bổ sung đối với rivaroxaban trong điều trị bệnh nhân bị HCMVCT để giảm nguy cơ huyết khối trong stent. Công ty chỉ được chấp thuận sử dụng rivaroxaban kết hợp với trị liệu kháng tiểu cầu tiêu chuẩn.

 

Bayer/Janssen Pharmaceuticals đã yêu cầu mở rộng chỉ định dùng rivaroxaban dựa trên các dữ liệu từ thử nghiệm ATLAS-ACS TIMI-51. Trong một tuyên bố đưa ra cùng ngày, các công ty nói rằng họ sẽ đánh giá các nội dung Thư trả lời đầy đủ của FDA và xác định các bước phù hợp tiếp theo. Đồng thời, họ vẫn cam kết sẽ cung cấp cho những bệnh nhân bị HCMVCT thêm các biện pháp bảo vệ để chống lại các loại huyết khối tim mạch bất lợi.

 

Rivaroxaban đã được phê duyệt để làm giảm nguy cơ đột quỵ và thuyên tắc hệ thống ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim (non-valvular atrial fibrillation). Nó cũng đã được chấp thuận để ngăn chặn huyết khối tĩnh mạch sâu (deep vein thrombosis) và thuyên tắc phổi (pulmonary embolism) sau phẫu thuật thay thế khớp háng hoặc đầu gối; để điều trị và làm giảm nguy cơ tái phát huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi.

 

(FDA Again Denies Rivaroxaban ACS Indication

http://www.medscape.com/viewarticle/820651)

Thủy Tiên (lược dịch)