Bản tin tổng hợp – Tháng 10/2022

0
137

Thử nghiệm BEST: Không có khác biệt đáng kể về kết quả dài hạn giữa PCI, CABG trong bệnh nhiều nhánh mạch vành

 

Tác giả: Ahn JM và cộng sự

Đăng trên tạp chí Circulation. 2022; 19/9/2022

Doi:10.1161/CIRCULATION AHA.122.062188.

 

BOSTON – Theo những dữ liệu mới từ nghiên cứu BEST, với thời gian theo dõi trung bình 11,8 năm, hầu hết các kết quả không có khác biệt giữa can thiệp mạch vành qua da (PCI) với stent phủ everolimus và phẫu thuật bắt cầu (CABG) trên những bệnh nhân nhiều nhánh bệnh mạch vành (BMV).

Tuy nhiên, nhồi máu cơ tim (NMCT) tự phát và tái thông mạch máu xảy ra thường xuyên hơn ở nhóm PCI theo các báo cáo từ các nhà nghiên cứu tại Hội nghị tim mạch can thiệp (TCT) 2022.

Như tác giả Healio đã báo cáo trước đây, trong kết quả chính của nghiên cứu BEST, được công bố vào năm 2015 trên Tạp chí Y học New England, theo dõi trung bình 4,8 năm, kết cục chính trên tử vong, NMCT hoặc tái thông mạch máu đích cao hơn ở nhóm có PCI với stent phủ EES (Xience, Abbott Vascular) hơn trong nhóm CABG.

“Sau đó, chúng tôi đã thực hiện theo dõi lâm sàng mở rộng để đánh giá kết quả so sánh lâu dài hơn giữa stent phủ everolimus và CABG trên những bệnh nhân bị nhiều nhánh BMV, có thời gian theo dõi tới 13,7 năm sau khi đăng ký ban đầu trong thử nghiệm BEST”. Jung-Min Ahn, phó giáo sư tại Trung tâm Y tế Asan, Đại học Y khoa Đại học Ulsan, Seoul, Hàn Quốc, đã cho biết trong một cuộc họp báo.

Phân tích hiện tại, được công bố đồng thời trên tạp chí Circulation, tác giả đã báo cáo tổng quan về thử nghiệm bao gồm 880 bệnh nhân (tuổi trung bình, 64 tuổi; 71% nam giới). Nhóm PCI, 71,8% có hướng dẫn IVUS và 50,9% đã tái thông mạch hoàn toàn, và trong nhóm CABG, 71,5% có tái thông hoàn toàn.

Trong phân tích theo dõi kéo dài (trung bình, 11,8 năm), kết cục tử vong chính xảy ra ở 34,5% nhóm PCI và 30,3% ở nhóm CABG (HR = 1,18; KTC 95%, 0,88-1,56; P = 0,26).

Ông cho biết cũng không có chênh lệch giữa các nhóm về tử vong / NMCT / đột quỵ (HR = 1,07; KTC 95%, 0,75-1,53; P = 0,7), và tử vong do mọi nguyên nhân (HR = 1,04; KTC 95%, 0,65 -1,67; P = 0,86).

Tuy nhiên, tác giả cho biết thêm, nhóm PCI có tỷ lệ NMCT tự phát cao hơn (7,1% so với 3,8%; HR = 1,86; KTC 95%, 1,06-3,27; P=0.031) và tái thông mạch máu dưới bất kỳ hình thức nào (22,6% so với 12,7 %; HR = 1,92; KTC 95%, 1,58-2,32; P <0,001).

Ngoài ra, khi phân tầng những bệnh nhân trong nhóm PCI theo có hay không có IVUS trong quá trình can thiệp, kết quả cho thấy những người có IVUS có tỷ lệ kết cục chính và tử vong do mọi nguyên nhân tương tự với nhóm CABG, nhưng những người không có IVUS có tỷ lệ cao hơn nhóm CABG (log-rank P cho kết quả chính <0,001; log-rank P cho tử vong do mọi nguyên nhân = 0,08).

Tác giả Ahn đã phát biểu trong hội nghị: “Việc theo dõi kéo dài thử nghiệm BEST cung cấp những hiểu biết dài hạn quan trọng có thể giúp đưa ra quyết định cho chiến lược tái thông mạch máu tối ưu ở những bệnh nhân bị bệnh nhiều nhánh động mạch vành.”


Liệu pháp kép cho mục tiêu giảm LDL sau đột quỵ làm giảm nguy cơ biến cố sau 5 năm

 

Nguồn: https://www.healio.com/news/cardiology/20220930/dual-therapy-for-lower-target-ldl-after-stroke-reduces-risk-for-events-at-5-years?

 

Các nhà nghiên cứu báo cáo rằng mục tiêu LDL dưới 70 mg / dL với ezetimibe cộng với liệu pháp statin có liên quan đến giảm nguy cơ cho các biến cố tiếp theo sau đột quỵ / cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) sau 5 năm so với mục tiêu giảm 90 mg/dL – 110 mg/dL.

Ngoài ra, theo kết quả của phân tích post-hoc của thử nghiệm Mục tiêu Điều trị Đột Quỵ được công bố trên tạp chí Stroke, ezetimibe cộng với liệu pháp statin – liệu pháp kép – cho mục tiêu LDL thấp hơn không liên quan đến việc tăng chảy máu nội sọ. “Ở nhóm có mục tiêu giảm LDL thấp hơn, liệu pháp kép với statin và ezetimibe rõ ràng làm giảm đáng kể các biến cố mạch máu lớn, và giảm không đáng kể đối với đơn trị liệu statin, so với tất cả bệnh nhân trong nhóm mục tiêu cao hơn” theo tác giả Amarenco, chủ nhiệm khoa thần kinh và Trung tâm Đột quỵ tại Bệnh viện Bichat và giáo sư thần kinh học tại Trường Y Xavier Bichat và Đại học Denis Diderot ở Paris. “Sự khác biệt này đã được quan sát thấy mặc dù mức cholesterol LDL trung bình đạt được sau điều trị là tương đương ở cả hai nhóm.”

Thử nghiệm Mục tiêu Điều trị Đột Quỵ

Mục tiêu Điều trị Đột Quỵ là một thử nghiệm nhóm được thực hiện ở Pháp và Hàn Quốc, bao gồm 2.860 bệnh nhân bị đột quỵ hoặc TIA và có bằng chứng về xơ vữa mạch máu não hoặc động mạch vành (tuổi trung bình 67 tuổi; 68% nam giới; LDL trung bình ban đầu là 135 mg/dL). Những người tham gia nhận được điều trị bằng liệu pháp kép hoặc đơn trị liệu statin và được chỉ định cho mức mục tiêu LDL dưới 70 mg/dL hoặc 90 – 110 mg/dL. Kết cục chính là đột quỵ, NMCT, tử vong do tim mạch, tái thông mạch khẩn cấp sau thời gian theo dõi trung bình là 3,5 năm.

Như trang web Healio/Cardiology Today đã báo cáo trước đây, những bệnh nhân có dấu hiệu xơ vữa động mạch sau đột quỵ hoặc TIA đạt mức LDL thấp hơn 70 mg/dL có nguy cơ mắc các biến cố tim mạch tiếp theo thấp hơn so với những bệnh nhân đạt mức LDL trong khoảng 90 mg/dL – 110 mg/dL (hiệu chỉnh HR = 0,78; KTC 95%, 0,61-0,98).

Liệu pháp điều trị kép so với đơn trị liệu và mục tiêu LDL thấp hơn.

Đối với phân tích post hoc, các nhà nghiên cứu đã đánh giá liệu liệu pháp kép hoặc đơn trị liệu statin có làm giảm nguy cơ đối với kết cục ban đầu ở những bệnh nhân đạt được LDL mục tiêu thấp hơn so với LDL mục tiêu cao hơn hay không.

Trong nhóm được chỉ định cho mục tiêu LDL thấp hơn, những người dùng liệu pháp kép có LDL trung bình cao hơn lúc ban đầu so với những bệnh nhân đơn trị liệu bằng statin (141 so với 131 mg/dL; P <0,001).

LDL trung bình đạt được là 66,2 mg/dL ở nhóm điều trị kép và 64,1 mg/dL ở nhóm đơn trị liệu statin. Amarenco và các đồng nghiệp cũng báo cáo rằng liệu pháp kép cho LDL mục tiêu thấp hơn có liên quan đến nguy cơ thấp hơn đối với kết cục chính so với LDL mục tiêu cao hơn (HR = 0,6; KTC 95%, 0,39-0,91; P = 0,016).

Tuy nhiên, không có mối liên quan giữa đơn trị liệu statin và nguy cơ thấp hơn đối với kết cục chính ở nhóm mục tiêu LDL thấp so với mục tiêu LDL cao hơn (HR = 0,92; KTC 95%, 0,7-1,2; P = 0.52).

Nguy cơ chảy máu nội sọ cũng thấp hơn ở những bệnh nhân điều trị kép với mục tiêu LDL dưới 70 mg / dL so với tất cả bệnh nhân có LDL mục tiêu cao hơn (HR = 0,62; KTC 95%, 0,41-0,94; P = 0,023).