Google search engine
Google search engine

Bản tin tổng hợp – Tháng 04/2022

FDA CHẤP THUẬN THUỐC EMPAGLIFLOZIN ĐỂ GIẢM TỬ VONG DO BỆNH MẠCH VÀNH, GIẢM NHẬP VIỆN DO SUY TIM TRONG SUY TIM PHÂN SUẤT TỐNG MÁU BẢO TỒN

 

Theo thông cáo báo chí của FDA, cơ quan này đã chấp thuận một chỉ định mở rộng cho empagliflozin – thuốc ức chế SGLT2 – để giảm nguy cơ tử vong do bệnh mạch vành (BMV) và nhập viện ở người lớn suy tim với phân suất tống máu (PSTM) giảm hoặc  bảo tồn.

Empagliflozin (Jardiance, Boehringer Ingelheim) ban đầu được phê duyệt vào năm 2014 để cải thiện glucose cho người mắc bệnh tiểu đường type 2. Vào tháng 8, FDA đã phê duyệt empagliflozin để giảm nguy cơ tử vong do BMV và nhập viện do suy tim  ở người mắc ST có PXTM giảm, bất kể bệnh nhân có bị tiểu đường hay không.

Tiến sĩ Norman Stockbri, giám đốc bộ phận tim mạch và thận học tại Trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá Thuốc của FDA, cho biết: “Sự chấp thuận này sẽ cung cấp thêm một lựa chọn điều trị cho nhiều bệnh nhân bị suy tim hơn. Mặc dù Jardiance có thể không phù hợp với tất cả bệnh nhân suy tim, nhưng với việc chấp thuận này được xem như một bước tiến đáng kể cho việc điều trị bệnh nhân và sự hiểu biết của chúng tôi về bệnh suy tim. Công bố này trùng hợp với việc tổ chức Tháng Tim Mạch hàng năm tại Mỹ – một lời nhắc nhở dành cho mọi người tập trung vào sức khỏe tim mạch – hành động này sẽ cung cấp cho các bác sĩ thêm một công cụ để giải quyết bệnh tim”.

Sự chấp thuận dựa trên dữ liệu từ nghiên cứu EMPEROR-PRESERVED, được công bố vào tháng 8 tại Hội nghị của Hiệp hội Tim mạch Châu Âu và do Healio trình bày. Đối với nghiên cứu đó, các nhà nghiên cứu đã khảo sát trên 5988 bệnh nhân (tuổi trung bình; 45% phụ nữ; 49% mắc bệnh tiểu đường) có NYHA độ II – IV HF và PSTM trên 40% chỉ định ngẫu nhiên empagliflozin 10mg mỗi ngày hoặc giả dược. Kết cục chính là tử vong do tim mạch hoặc nhập viện vì suy tim.

Trong thời gian theo dõi trung bình 26,2 tháng, kết cục chính xảy ra ở 13,8% nhóm dùng empagliflozin so với 17,1% nhóm giả dược (HR = 0,79; KTC 95%, 0,69-0,9; P <.0003; số lượng cần thiết để điều trị để ngăn ngừa một thậm chí 31), nhập viện do suy tim (HR = 0,71; KTC 95%, 0,6-0,83). Kết quả không có khác biệt ở bệnh nhân mắc hay không mắc bệnh tiểu đường và không khác biệt theo PSTM.

Các kết quả này đại diện cho thử nghiệm đầu tiên cho thấy lợi ích rõ ràng của một loại thuốc đối với các kết cục chính ở bệnh nhân suy tim có PSTM bảo tồn.


 

MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA N-Terminal ProBNP VỚI CÁC BIẾN CỐ LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN HẸP ĐỘNG MẠCH CHỦ KHÔNG TRIỆU CHỨNG

Phân tích Post-Hoc từ thử nghiệm SEAS Edina Hadziselimovic, MD; Anders M. Greve, MD, PhD; Ahmad Sajadieh, MD, DMSc

Đăng trên tạp chí JAMA Cardiol 16/02/2022

 

Đặt vấn đề: Các nghiên cứu gần đây đã đặt câu hỏi về làm thế nào để xác định tình trạng được cho là nguy cơ thấp của bệnh nhân hẹp động mạch chủ (ĐMC) không triệu chứng. Liệu rằng thông số NT-proBNP có hữu ích cho việc đánh giá nguy cơ hay không vẫn chưa được biết rõ.

Mục tiêu: Đánh giá mối liên hệ của  NT-proBNP với kết quả lâm sàng ở bệnh nhân hẹp van ĐMCkhông nặng.

Thiết kế nghiên cứu: Phân tích nồng độ NT-proBNP trong thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đa trung tâm, mù đôi Simvastatin và Ezetimibe ở bệnh nhân hẹp động mạch chủ (Nc SEAS) đã được thực hiện. Thử nghiệmSEAS được tiến hành từ ngày 6 tháng 1 năm 2003 đến ngày 1 tháng 4 năm 2008. Mẫu máu được phân tích vào năm 2016, và phân tích dữ liệu được thực hiện từ ngày 10 tháng 2 đến ngày 10 tháng 10 năm 2021. Trong nghiên cứu này, có 1873 bệnh nhân hẹp ĐMC không triệu chứng không cần điều trịstatin với vận tốc dòng chảy tối đa qua động mạch chủ từ 2,5 đến 4,0 m/s và phân suất tống máu (PSTM) bảo tồn. Nghiên cứu này tiến hành trên 1644 bệnh nhân (87,8%) với các mẫu máu có sẵn tại thời điểm ban đầu và một năm sau đó.

Biến số nghiên cứu: Tăng nồng độ NT-proBNP được hiệu chỉnh theo tuổi và giới tính ở thời điểm sau một năm theo dõi và thay đổi nồng độ NT-proBNP tương đối gấp 1,5 lần hoặc lớn hơn từ lúc ban đầu so với sau một năm. Hẹp ĐMC trung bình được định nghĩa là vận tốc dòng chảy tối đa ban đầu lớn hơn hoặc bằng 3,0 m/s.

Các kết quả và biến cố chính: Biến cố van ĐMC, là tổng hợp các biến cốbao gồm thay van động mạch chủ, tử vong do tim mạch, hoặc suy tim do hẹp ĐMC tiến triển, đã được ghi nhận. Các phân tích mốc từ năm 1 đã kiểm tra mối liên hệ của nồng độ NT-proBNP với kết quả.

Kết quả: Trong số 1644 bệnh nhân, 996 bệnh nhân là nam giới (60,6%); tuổi trung bình là 67,5 tuổi. Nồng độ NT-proBNP được điều chỉnh nằm trong phạm vi tham chiếu (bình thường) ở 1228 trong số 1594 bệnh nhân (77,0%) với các giá trị NT-proBNP có sẵn tại thời điểm ban đầu và ở 1164 trong số 1644 bệnh nhân (70,8%) ở năm thứ nhất. Trong 2 năm tiếp theo của theo dõi, tỷ lệ có biến cố trên 100 bệnh nhân-năm đối với mức bình thường so với mức NT-proBNP hiệu chỉnh tăng ở năm 1 là 1,39 (KTC 95%, 0,86-2,23) so với 7,05 (KTC 95%, 4,60-10,81) đối với bệnh nhân hẹp ĐMC nhẹ  (P <0,01) và 10,38 (KTC 95%, 8,56-12,59) so với 26,20 (KTC 95%, 22,03-31,15) cho những người có hẹp ĐMC  trung bình (P <0,01). Tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân tương ứng là 1,05 (KTC 95%, 0,61-1,81) so với 4,17 (KTC 95%, 2,42-7,19) đối với bệnh nhân hẹp ĐMC nhẹ (P <0,01) và 1,60 (KTC 95%, 0,99-2,57 ) so với 4,78 (KTC 95%, 3,32-6,87) đối với những người có hẹp ĐMC trung bình (P <0,01). Trong các mô hình hồi quy theo tỷ lệ Cox đa biến trên các yếu tố nguy cơ, sự kết hợp giữa mức NT-proBNP được hiệu chỉnh tăng trong 1 năm và mức NT-proBNP thay đổi từ 1,5 lần trở lên so với ban đầu có liên quan đến tỷ lệ biến cố ĐMC cao nhất ở cả bệnh nhân hẹp ĐMC nhẹ (tỷ số nguy cơ HR 8,12; KTC 95%, 3,53-18,66; P <0,001) và những người có hẹp ĐMC trung bình (HR 4,05; KTC 95%, 2,84-5,77; P <0,001).

Kết luận và mức độ liên quan: Các phát hiện của nghiên cứu này gợi ý rằng nồng độ NT-proBNP bình thường tại thời điểm theo dõi 1 năm có liên quan đến tỷ lệ biến cố ĐMC thấp và tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân ở bệnh nhân hẹp ĐMC nặng không triệu chứng. Ngược lại, mức NT-proBNP tăng trong 1 năm kết hợp với mức tăng 50% hoặc cao hơn so với ban đầu có thể liên quan đến tỷ lệ biến cố ĐMC cao.


 

LIỆU TRÌNH XUỐNG THANG PRASUGREL  SAU KHI CAN THIỆP ĐỘNG MẠCH VÀNH QUA DA PHỨC TẠP  Ở NHỮNG BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG MẠCH VÀNH CẤP

 

Phân tích Post – Hoc từ nghiên cứu HOST-REDUCED-POLYTECH-ACS

Tác giả: Doyeon Hwang, MD; Young-Hyo Lim, MD; Kyung Woo Park, MD

Đăng trên tạp chí JAMA Cardiol, ngày 09/03/2022

 

Đặt vấn đề: Việc xuống thang liệu pháp kháng tiểu cầu kép thông qua việc giảm liều Prasugrel đã cải thiện các biến cố lâm sàng sau hội chứng mạch vành cấp (HC MVC), chủ yếu thông qua việc làm giảm xuất huyết mà không làm tăng kết cục thiếu máu cục bộ (TMCB). Tuy nhiên, liệu những lợi ích này có được quan sát thấy ở những bệnh nhân làm thủ thuật PCI phức tạp, hay không vẫn chưa được biết.

Mục tiêu: Khảo sát lợi ích của liệu pháp xuống thang Prasugrel có được duy trì hay không trong phân nhóm bệnh nhân can thiệp mạch vành qua da phức tạp.

Thiết kế nghiên cứu: Đây là phân tích hậu kỳ sau nghiên cứu HOST-REDUCED-POLYTECH-ACS, một thử nghiên cứu ngẫu nhiên, nhãn mở, mù đối với người quan sát, đa trung tâm được thực hiện tại 35 bệnh viện Hàn Quốc. Những người tham gia nghiên cứu là bệnh nhân có HC MVC đã từng được điều trị can thiệp mạch vành qua da. Dữ liệu được thu thập từ 30/9/2014 đến 18/12/2015 và phân tích từ 17/9/2020 đến 15/6/2021.

Bệnh nhân được lựa chọn ngẫu nhiên để giảm liều Prasugrel (còn 5mg mỗi ngày) ở nhóm sau can thiệp 1 tháng hoặc nhóm thông thường (10mg mỗi ngày). Thủ thuật can thiệp mạch vành phức tạp được định nghĩa là có ít nhất 1 trong các đặc điểm sau đây: đặt từ 3 stent trở lên, điều trị từ 3 tổn thương trở lên, có can thiệp nhánh, tổng chiểu dài stent từ 60mm trở lên, can thiệp thân chung hoặc mạch vành vôi hoá nặng.

Biến số nghiên cứu: Các biến cố chính cần phân tích là biến cố tim mạch chính (MACE) (bao gồm tử vong tổng hợp do tim mạch, nhồi máu cơ tim không gây tử vong, huyết khối trong stent, và cần lập lại tái thông mạch vành) tại thời điểm 1 năm đối với các kết cục TMCB, đối với kết cục xuất huyết: có biến cố xuất từ nhóm 2 trở lên theo phân loại BARC đối với các biến cố xuất huyết sau 1 năm.

Kết quả: Trong 2271 bệnh nhân (tuổi trung bình 58,9, 2024 bệnh nhân nam (89%)) có đầy đủ dữ liệu được theo dõi liên tục, 705 bệnh nhân can thiệp mạch vành qua da phức tạp và 1566 bệnh nhân can thiệp mạch vành qua da không phức tạp. Can thiệp mạch vành qua da phức tạp có liên quan đến tỷ lệ kết cục TMCB cao hơn nhưng không kèm biến cố xuất huyết. Giảm liều Prasugrel không làm tăng nguy cơ MACE (HR 0,88; KTC 95% 0,47 – 1,66; p = 0,70 trong PCI phức tạp và HR 0,81; KTC 95% 0,45 – 1,46; p = 0,48 trong PCI không phức tạp, P tương tác là 0,84) nhưng ghi nhận có sự giảm các biến cố xuất huyết BARC từ nhóm 2 trở lên (HR 0,25; KTC 95% 0,10 – 0,61; p = 0,002 trong PCI phức tạp và HR 0,62; KTC 95% 0,38 – 1,00; p = 0,05 trong PCI không phức tạp, P tương tác là 0,8) mặc dù KTC rộng.

Kết luận: Việc giảm liều Prasugrel so với điều trị thông thường không liên quan đến việc tăng nguy cơ thiếu máu cục bộ nhưng có thể làm giảm nguy cơ các biến cố chảy máu nhẹ sau 1 năm, bất kể mức độ phức tạp của thủ thuật can thiệp mạch vành.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN
XEM THÊM

DANH MỤC

THÔNG BÁO