LÊ THANH MINH PHƯƠNG1, NGUYỄN LÊ HIỆP1
VŨ HÀ THẢO VY1, NGUYỄN ĐỨC DUY1,
PHẠM HƯƠNG GIANG1, KIỀU THỊ TUYẾT MAI1*
ĐỖ MẠNH CƯỜNG2, NGUYỄN BÁCH3
ĐỖ VŨ THÙY GIANG, NGUYỄN LÊ QUÂN4
1 Trường Đại học Dược Hà Nội, 2Cục Phòng bệnh, Bộ Y tế
3Bệnh viện Thống Nhất, 4Công ty TNHH AstraZeneca Việt Nam
Tóm tắt
Mục tiêu: Tổng quan hệ thống các nghiên cứu đo lường chi phí y tế trực tiếp trong điều trị bệnh thận mạn (BTM). Đối tượng và phương pháp: Tổng quan được thực hiện theo hướng dẫn PRISMA 2020. Các nghiên cứu được tìm kiếm trên PubMed và Embase đến ngày 30/01/2026 theo các tiêu chí xác định. Dữ liệu được trích xuất và tổng hợp định tính theo quan điểm phân tích, bối cảnh điều trị và giai đoạn BTM. Tất cả chi phí được quy đổi về Việt Nam đồng năm 2024. Kết quả: Hai mươi ba nghiên cứu được đưa vào tổng quan. Chi phí y tế trực tiếp tăng theo mức độ tiến triển bệnh và cao nhất ở giai đoạn điều trị thay thế thận (TTT). Xu hướng này nhất quán giữa các quan điểm phân tích, bối cảnh chăm sóc và đơn vị đo lường chi phí. Trong các nghiên cứu có báo cáo cấu phần, chi phí nhập viện, chi phí thuốc và chi phí điều trị thay thế thận thường là các khoản chi lớn nhất. Kết luận: Chi phí điều trị BTM gia tăng theo tiến triển bệnh và đạt mức cao nhất ở giai đoạn điều trị thay thế thận, nhấn mạnh vai trò của quản lý BTM theo tiến trình bệnh và phát hiện sớm nhằm giảm gánh nặng kinh tế liên quan.
Từ khóa: bệnh thận mạn, chi phí y tế trực tiếp, chi phí điều trị, tổng quan hệ thống
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh thận mạn (BTM) là một trong những bệnh mạn tính quan trọng, có xu hướng gia tăng nhanh và tạo áp lực ngày càng lớn lên sức khỏe cộng đồng. Theo KDIGO, BTM được định nghĩa là tình trạng có bất thường về cấu trúc hoặc chức năng thận kéo dài tối thiểu 3 tháng, thường được nhận diện qua giảm mức lọc cầu thận ước tính (eGFR) và/hoặc tăng albumin niệu (1).
Gánh nặng bệnh tật do BTM ngày càng gia tăng trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam. Năm 2023, BTM là nguyên nhân tử vong đứng thứ 9 trên thế giới với khoảng 1,48 triệu ca tử vong; tại Việt Nam, ước tính có khoảng 11,2 triệu người mắc và 18,7 nghìn ca tử vong liên quan, đứng thứ ba ở Đông Nam Á (2).
Bên cạnh gánh nặng sức khỏe, BTM còn tạo ra gánh nặng kinh tế lớn cho cả hệ thống y tế và người bệnh. Chi phí y tế trực tiếp của BTM bao gồm chi phí khám ngoại trú, điều trị nội trú, thuốc, xét nghiệm, thủ thuật và quản lý các biến chứng liên quan. Các bằng chứng quốc tế cho thấy chi phí điều trị gia tăng theo giai đoạn bệnh: tổng hợp dữ liệu từ 31 quốc gia trong chương trình Inside CKD ghi nhận chi phí trung bình mỗi người bệnh tăng dần theo mức độ suy giảm chức năng thận; tại Hoa Kỳ, chi phí hằng năm ở giai đoạn G3a ước khoảng 3.060 USD và tăng nhiều lần ở các giai đoạn muộn (3). Ở cấp độ hệ thống, tác động tài chính của BTM cũng rất đáng kể; tại Úc, năm 2019 chi phí y tế trực tiếp do BTM ước tính khoảng 8,3 tỷ AUD, trong đó chi phí nhập viện (không liên quan thẩm tách máu) chiếm tỷ trọng cao nhất (4). Tại Việt Nam, gánh nặng kinh tế của BTM đã được ghi nhận. Một nghiên cứu tại Bệnh viện Quận 2 (TP. HCM) năm 2019 cho thấy tổng chi phí trực tiếp cho toàn bộ người bệnh BTM điều trị tại bệnh viện lên tới gần 1 triệu USD; chi phí tăng theo giai đoạn bệnh và cao hơn ở nhóm có thẩm phân hoặc bệnh mắc kèm, song đây mới là số liệu ở bối cảnh bệnh viện, chưa phản ánh đầy đủ gánh nặng trên phạm vi toàn quốc (5).
Trong bối cảnh gánh nặng BTM gia tăng nhanh cùng với chi phí điều trị cao, việc tổng hợp có hệ thống các bằng chứng về chi phí y tế trực tiếp là cần thiết. Tổng quan hệ thống này được thực hiện nhằm tổng hợp mức chi phí trực tiếp của BTM theo giai đoạn bệnh và bối cảnh chăm sóc, đồng thời xác định các yếu tố làm gia tăng chi phí, qua đó cung cấp bằng chứng khoa học hỗ trợ quá trình hoạch định chính sách, ưu tiên phân bổ nguồn lực cho phòng ngừa và quản lý bệnh thận mạn.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1. Thiết kế nghiên cứu
Tổng quan hệ thống được thực hiện theo hướng dẫn PRISMA 2020 (6)
2.2. Tìm kiếm và lựa chọn nghiên cứu
Hai cơ sở dữ liệu PubMed và Embase được sử dụng để tìm kiếm các nghiên cứu liên quan (dữ liệu cập nhật đến ngày 30/01/2026). Chiến lược tìm kiếm bao gồm hai nhóm thuật ngữ về bệnh thận mạn và chi phí y tế trực tiếp, xây dựng từ MeSH, Emtree và từ tự do, với các thuật ngữ cốt lõi như “chronic kidney disease”, “CKD”, “direct medical cost”, “cost of illness”, đồng thời điều chỉnh cú pháp theo từng cơ sở dữ liệu.
Nghiên cứu được đưa vào tổng quan khi: (i) là nghiên cứu quan sát; (ii) đối tượng là người trưởng thành mắc BTM; (iii) báo cáo chi phí y tế trực tiếp liên quan đến điều trị BTM. Loại trừ các nghiên cứu không liên quan đến chủ đề, không phải nghiên cứu gốc, không cung cấp kết quả phù hợp hoặc thực hiện trên đối tượng không phải người trưởng thành.
2.3. Sàng lọc, trích xuất dữ liệu
Sau khi loại trùng lặp, hai nghiên cứu viên độc lập thực hiện sàng lọc tiêu đề/tóm tắt, sau đó đánh giá toàn văn theo các tiêu chí đã xác định trước. Bất đồng được giải quyết thông qua thảo luận hoặc tham vấn nghiên cứu viên thứ ba. Dữ liệu được trích xuất theo biểu mẫu chuẩn hóa, bao gồm đặc điểm và kết quả nghiên cứu. Tất cả giá trị chi phí đều được quy đổi về đơn vị VNĐ năm 2024 bằng công cụ chuyển đổi chi phí CCEMG (7). Kết quả được tổng hợp định tính theo quan điểm nghiên cứu, bối cảnh chăm sóc và giai đoạn BTM; không thực hiện phân tích gộp định lượng do khác biệt về thiết kế, quần thể và đơn vị đo lường chi phí. Đối với các nghiên cứu tiến hành theo quan điểm xã hội có báo cáo cả chi phí trực tiếp và gián tiếp, tổng quan này chỉ trích xuất và tổng hợp các kết quả giới hạn ở chi phí y tế trực tiếp liên quan đến BTM nhằm đảm bảo tính nhất quán và khả năng so sánh giữa các nghiên cứu.
2.4. Đánh giá chất lượng nghiên cứu
Chất lượng nghiên cứu được đánh giá theo bộ công cụ của Larg & Moss (8). Do tổng quan chỉ tập trung vào chi phí y tế trực tiếp, hai tiêu chí liên quan đến chi phí gián tiếp và chi phí vô hình được loại bỏ (9). Điểm tối đa là 14 điểm, mỗi tiêu chí được chấm 1 điểm nếu đáp ứng đầy đủ, 0,5 điểm nếu đáp ứng một phần và 0 điểm nếu không đáp ứng. Hai nghiên cứu viên đánh giá độc lập và thống nhất kết quả sau thảo luận.
III. KẾT QUẢ
3.1. Kết quả tìm kiếm và lựa chọn nghiên cứu
Kết quả tìm kiếm từ hai cơ sở dữ liệu PubMed và Embase thu được tổng cộng 12.509 bản ghi. Quá trình sàng lọc thu được 23 bài báo đáp ứng đầy đủ tiêu chí được đưa vào tổng quan hệ thống. Chất lượng các nghiên cứu nhìn chung ở mức trung bình đến tốt, với điểm Larg & Moss dao động từ 9,5 đến 13 điểm; 21/23 nghiên cứu đạt trên 10 điểm. Quy trình lựa chọn nghiên cứu được trình bày ở Hình 1.
Hình 1. Quy trình lựa chọn nghiên cứu
3.2. Đặc điểm chung các nghiên cứu đưa vào tổng quan hệ thống
Tổng quan bao gồm 23 nghiên cứu được công bố trong giai đoạn 2016–2025. Về thiết kế nghiên cứu, có 15 nghiên cứu hồi cứu, 7 nghiên cứu cắt ngang và 1 nghiên cứu tiến cứu. Nguồn dữ liệu được sử dụng bao gồm hồ sơ bệnh án, dữ liệu thanh toán bảo hiểm hoặc khảo sát bằng bảng hỏi. Mười ba nghiên cứu áp dụng quan điểm cơ quan chi trả. Các nghiên cứu còn lại sử dụng quan điểm nhà cung cấp dịch vụ y tế, người bệnh tự chi trả hoặc quan điểm xã hội. Đặc điểm chung các nghiên cứu được trình bày trong Bảng 1.
Bảng 1. Đặc điểm chính của nghiên cứu đưa vào tổng quan
| Tác giả, năm | Quốc gia | TKNC | Nguồn dữ liệu | Bối cảnh chăm sóc | Quan điểm
phân tích |
Phân tầng BTM |
| Adejumo, 2020 (9) | Nigeria | Hồi cứu | Hồ sơ bệnh án | Nội trú | Nhà cung cấp dịch vụ y tế | KDIGO G1–G5 |
| Ahlawat, 2017 (11) | Ấn Độ | Cắt ngang | Hồ sơ bệnh án | Ngoại trú | Người bệnh tự chi trả (OOP) | KDIGO G2–G5 |
| Aoun, 2022 (12) | Lebanon | Cắt ngang | Hồ sơ bệnh án | Nội trú | Cơ quan chi trả | BTM không HD và các nhóm điều trị TTT (HD, PD, ghép thận) |
| Anutrakulchai, 2016 (13) | Thái Lan | Cắt ngang | Dữ liệu thanh toán bảo hiểm | Nội trú
|
Cơ quan chi trả | Theo loại bảo hiểm: UCS, CSMBS, SHI |
| Arodiwe, 2024 (14) | Nigeria | Cắt ngang | Khảo sát bảng hỏi | Nội trú + ngoại trú | Quan điểm xã hội | Toàn bộ giai đoạn BTM |
| Balducci, 2025 (15) | Áo, Đức, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha | Tiến cứu | Hồ sơ bệnh án + khảo sát bảng hỏi | Ngoại trú | Cơ quan chi trả | eGFR ≥ 60; eGFR: 30–59; eGFR < 30 (ml/phút/ 1,73 m²) |
| Betts, 2022 (16) | Hoa Kỳ | Hồi cứu | Dữ liệu thanh toán bảo hiểm | Nội trú + ngoại trú | Cơ quan chi trả | KDIGO G1-G5 |
| Alaoui, 2023 (17) | Morocco | Hồi cứu | Hồ sơ bệnh án | Nội trú + ngoại trú | Cơ quan chi trả | KDIGO G3-G5 |
| Chung, 2023 (18) | Hoa Kỳ | Hồi cứu | Dữ liệu thanh toán bảo hiểm | Nội trú + ngoại trú | Cơ quan chi trả | KDIGO G1-G5 |
| Escobar, 2021 (19) | Tây Ban Nha | Hồi cứu | Hồ sơ bệnh án | Nội trú + ngoại trú | Quan điểm xã hội | BTM không HD |
| Gandjour, 2020 (20) | Đức | Hồi cứu | Dữ liệu thanh toán bảo hiểm | Nội trú + ngoại trú | Cơ quan chi trả | KDIGO G3, G4 và giai đoạn HD |
| Golestaneh, 2017 (21) | Hoa Kỳ | Hồi cứu | Dữ liệu thanh toán bảo hiểm | Nội trú + ngoại trú | Cơ quan chi trả | KDIGO G2-G5 |
| Liu, 2018 (22) | Trung Quốc | Hồi cứu | Hồ sơ bệnh án | Nội trú | Nhà cung cấp dịch vụ y tế | Toàn bộ giai đoạn BTM |
| Manns, 2019 (23) | Canada | Hồi cứu | Dữ liệu thanh toán bảo hiểm | Nội trú + ngoại trú | Cơ quan chi trả | KDIGO G1-G5 |
| McQueen, 2017 (24) | Hoa Kỳ | Hồi cứu | Dữ liệu thanh toán bảo hiểm | Nội trú + ngoại trú | Cơ quan chi trả | KDIGO G1-G5 |
| Nagai, 2019 (25) | Nhật Bản | Hồi cứu | Dữ liệu thanh toán bảo hiểm | Nội trú + ngoại trú | Cơ quan chi trả | Có và không HD |
| Phương Lan, 2018 (26) | Việt Nam | Hồi cứu | Hồ sơ bệnh án | Nội trú + ngoại trú | Cơ quan chi trả | Có và không HD |
| Thái Quang, 2018 (27) | Việt Nam | Cắt ngang | Hồ sơ bệnh án + phỏng vấn bảng hỏi | Nội trú + ngoại trú | Quan điểm xã hội | KDIGO G1-G3
KDIGO G4-5 tiền HD Người bệnh HD |
| Hải Yến, 2021 (5) | Việt Nam | Cắt ngang | Hồ sơ bệnh án | Nội trú + ngoại trú | Nhà cung cấp dịch vụ y tế | KDIGO G1-G5 |
| Songsermlosakul, 2020 (28) | Thái Lan | Hồi cứu | Hồ sơ bệnh án | Nội trú + ngoại trú | Nhà cung cấp dịch vụ y tế | KDIGO G3a, G3b, G4 (không TTT) |
| Oosten, 2020 (29) | Hà Lan | Hồi cứu | Dữ liệu thanh toán bảo hiểm | Nội trú + ngoại trú | Cơ quan chi trả | KDIGO G4-5 chưa TTT
Người bệnh HD Người bệnh ghép thận |
| Randall, 2024 (4) | Úc | Hồi cứu | Dữ liệu hành chính liên kết + hồ sơ bệnh án | Nội trú + ngoại trú | Cơ quan chi trả | KDIGO G1-G5 |
| Turchetti, 2017 (30) | Ý | Cắt ngang | Hồ sơ bệnh án | Ngoại trú | Quan điểm xã hội | KDIGO G4 và G5 chưa HD |
3.3. Chi phí y tế trực tiếp theo người bệnh theo năm (PPPY)
Kết quả nhìn chung cho thấy chi phí y tế trực tiếp tăng theo giai đoạn BTM và tăng mạnh nhất ở giai đoạn muộn hoặc khi người bệnh bước vào điều trị TTT (Bảng 2). Xu hướng này nhất quán giữa các quan điểm phân tích. Ở các nghiên cứu phân tầng theo giai đoạn, chi phí ở giai đoạn sớm thường tương đối thấp, tuy nhiên có xu hướng tăng rõ từ giai đoạn 3b–4 trở đi.
Trong các nghiên cứu có báo cáo cấu phần, chi phí nhập viện, chi phí thuốc và chi phí điều trị TTT thường là các khoản chi lớn nhất. Chi phí thuốc nổi bật hơn ở BTM giai đoạn muộn chưa TTT, trong khi chi phí TTT chi phối ở các nhóm thẩm tách máu (HD) hoặc thẩm phân phúc mạc (PD). Ở các nghiên cứu bao phủ toàn bộ quần thể BTM hoặc phân tầng theo eGFR, chi phí nhập viện thường là cấu phần lớn.
Bảng 2. Chi phí y tế trực tiếp trên người bệnh theo năm (PPPY) (ĐVT: VNĐ 2024)
| Tác giả, năm công bố | Bối cảnh chăm sóc | Nhóm người bệnh BTM | Tổng chi phí y tế trực tiếp (PPPY) | Cấu phần chi phí có giá trị lớn nhất | |
| Quan điểm xã hội (3 nghiên cứu) | |||||
| Turchetti, 2017 (30) | Ngoại trú | GĐ 4 (không HD) | 55.435.418 | CP thuốc: 28.916.828 | |
| GĐ 5 (không HD) | 72.878.044 | CP thuốc: 36.639.688 | |||
| Thái Quang, 2018 (27) | Nội trú + ngoại trú | GĐ 1 – GĐ 3 | 16.909.647 | CP thuốc: 15.210.391 | |
| GĐ 4 – GĐ 5 (tiền HD) | 24.086.617 | CP thuốc: 16.356.523 | |||
| Giai đoạn HD | 71.709.877 | CP HD: 39.758.820 | |||
| Escobar, 2021 (19) | Nội trú + ngoại trú | Tất cả giai đoạn BTM (bao gồm HD và TTT) | 38.714.656 | CP nhập viện: 30.619.209 | |
| Quan điểm nhà cung cấp dịch vụ y tế (3 nghiên cứu) | |||||
| Liu, 2018 (22) | Nội trú | Tất cả giai đoạn BTM
(năm 2014) |
29.086.492 | CP thuốc: 8.597.954 | |
| Tất cả giai đoạn BTM
(năm 2015) |
28.542.213 | CP thuốc: 8.479.897 | |||
| Tất cả giai đoạn BTM
(năm 2016) |
30.194.239 | CP thuốc: 9.012.976 | |||
| Songsermlo-sakul, 2020 (28) | Nội trú + ngoại trú | Tất cả giai đoạn BTM – năm đầu tiên | 4.195.150 | NA | |
| GĐ 3a – năm đầu tiên | 3.615.509 | NA | |||
| GĐ 3b – năm đầu tiên | 4.027.913 | NA | |||
| GĐ 4 – năm đầu tiên | 7.945.166 | NA | |||
| Tất cả giai đoạn BTM – năm thứ hai | 4.192.133 | NA | |||
| GĐ 3a – năm thứ hai | 3.433.114 | NA | |||
| GĐ 3b – năm thứ hai | 4.985.109 | NA | |||
| GĐ 4 – năm thứ hai | 6.020.766 | NA | |||
| Hải Yến, 2021 (5) | Nội trú + ngoại trú | GĐ 1 | 228.597 | NA | |
| GĐ 2 | 348.860 | NA | |||
| GĐ 3 | 1.663.794 | NA | |||
| GĐ 4 | 3.131.789 | NA | |||
| GĐ 5 (không TTT) | 7.702.750 | NA | |||
| ESKD | 28.773.499 | NA | |||
| Quan điểm cơ quan chi trả (12 nghiên cứu) | |||||
| Phương Lan, 2018 (26) | Nội trú + ngoại trú | Người bệnh OP điều trị HD | 23.177.877 | CP phẫu thuật | |
| Người bệnh OP không điều trị HD | 9.236.713 | NA | |||
| Người bệnh IP điều trị HD | 5.641.241 | CP phẫu thuật | |||
| Người bệnh IP không điều trị HD | 1.806.960 | NA | |||
| Aoun, 2022 (12) | Nội trú | Toàn bộ giai đoạn BTM | 309.660.737 | Chi phí thuốc: 150.241.692 | |
| BTM không lọc máu | 163.040.967 | Chi phí thuốc: 92.236.471 | |||
| Người bệnh ghép thận | 499.634.645 | Chi phí thuốc: 411.210.723 | |||
| Người bệnh PD | 2.148.099.461 | Chi phí PD: 1.466.633.425 | |||
| Người bệnh HD | 1.929.177.408 | Chi phí HD: 915.665.521 | |||
| Golestaneh, 2017 (21) | Nội trú + ngoại trú | GĐ 2* | 179.357.305 | NA | |
| GĐ 3a* | 287.078.640 | NA | |||
| GĐ 3b* | 465.740.762 | NA | |||
| GĐ 4 – GĐ 5 * | 823.193.349 | NA | |||
| ESKD không HD* | 1.304.249.535 | NA | |||
| GĐ 2** | 155.004.498 | NA | |||
| GĐ 3a** | 224.223.369 | NA | |||
| GĐ 3b** | 293.399.461 | NA | |||
| GĐ 4 – GĐ 5** | 493.344.889 | NA | |||
| ESKD không HD** | 934.101.832 | NA | |||
| McQueen, 2017 (24) | Nội trú + ngoại trú | GĐ 3a tăng so với GĐ 1 | 18.709.571 | NA | |
| GĐ 3b tăng so với GĐ 1 | 28.431.634 | NA | |||
| GĐ 4 tăng so với GĐ 1 | 75.065.133 | NA | |||
| GĐ 5 tăng so với GĐ 1 | 218.314.340 | NA | |||
| Manns, 2019 (23) | Nội trú + ngoại trú | Tất cả giai đoạn BTM (không HD ở thời điểm ban đầu) | 126.853.201 | NA | |
| eGFR > 60 mL/min/1,73 m2 kèm mức albumin niệu trung bình | 99.452.424
|
NA | |||
| eGFR > 60 mL/min/1,73 m2 kèm mức albumin niệu nặng | 164.378.656 | NA | |||
| eGFR = 45-59,9 mL/min/1,73 m2 | 110.842.687 | NA | |||
| eGFR = 30-44,9 mL/min/1,73 m2 | 174.451.324 | NA | |||
| eGFR = 15-29,9 mL/min/1,73 m2 | 201.999.464 | NA | |||
| eGFR < 15 mL/min/1,73 m2 (trừ HD) | 380.672.293 | NA | |||
| Nagai, 2019 (25) | Nội trú + ngoại trú | Người bệnh có HD | 339.680.643 | NA | |
| Người bệnh không HD | 26.961.992 | NA | |||
| Gandjour, 2020 (20) | Nội trú + ngoại trú | GĐ 3 | 114.349.073 | CP nhập viện: 61.375.405 | |
| GĐ 4 | 138.984.677 | CP nhập viện: 77.481.109 | |||
| GĐ HD | 631.896.115 | CP HD: 332.381.286 | |||
| Oosten, 2020 (29) | Nội trú + ngoại trú | GĐ4-GĐ5
(chưa TTT) |
20-44 tuổi | 117.963.293 | NA |
| 45-64 tuổi | 158.163.762 | NA | |||
| 65-75 tuổi | 177.245.657 | NA | |||
| ≥75 tuổi | 163.057.256 | NA | |||
| HD | 20-44 tuổi | 1.230.071.464 | NA | ||
| 45-64 tuổi | 1.286.497.011 | NA | |||
| 65-75 tuổi | 1.255.195.048 | NA | |||
| ≥75 tuổi | 1.170.748.093 | NA | |||
| Ghép thận | 20-44 tuổi | 212.115.224 | NA | ||
| 45-64 tuổi | 212.839.680 | NA | |||
| 65-75 tuổi | 239.166.134 | NA | |||
| ≥75 tuổi | 226.481.321 | NA | |||
| Betts, 2022 (16) | Nội trú + ngoại trú | Tất cả giai đoạn BTM | 284.614.142 | CP nhập viện: 119.586.442 | |
| GĐ 1 | 199.993.217 | NA | |||
| GĐ 2 | 241.230.264 | NA | |||
| GĐ 3 | 295.745.858 | NA | |||
| GĐ 4-5 (không ESKD) | 378.398.855 | NA | |||
| Alaoui, 2023 (17) | Nội trú + ngoại trú | Tất cả giai đoạn BTM | 19.965.529 | CP thuốc: 6.520.403 | |
| GĐ 3 | 19.818.133 | CP nhập viện: 10.135.925 | |||
| GĐ 4 | 21.688.758 | CP thuốc: 8.401.961 | |||
| GĐ 5 (không TTT) | 14.811.941 | CP nhập viện: 4.352.401 | |||
| Chung, 2023 (18) | Nội trú + ngoại trú | Tất cả giai đoạn BTM | 251.819.659 | NA | |
| GĐ 1 | 427.287.921 | NA | |||
| GĐ 2 | 234.108.713 | NA | |||
| GĐ 3a | 227.292.163 | NA | |||
| GĐ 3b | 298.619.251 | NA | |||
| GĐ 4 | 396.366.762 | NA | |||
| GĐ 5 | 927.453.519 | NA | |||
| Randall, 2024 (4) | Nội trú + ngoại trú | GĐ 1 | 19.652.054 | CP nhập viện: 8.842.548 | |
| GĐ 2 | 24.012.043 | CP nhập viện: 13.161.681 | |||
| GĐ 3a | 21.052.854 | CP nhập viện: 14.416.565 | |||
| GĐ 3b | 38.358.568 | CP nhập viện: 26.801.970 | |||
| GĐ 4 | 66.864.845 | CP nhập viện: 49.027.994 | |||
| GĐ 5 | 365.130.151 | CP HD: 215.851.581 | |||
| Quan điểm người bệnh tự chi trả (1 nghiên cứu) | |||||
| Ahlawat, 2017 (11) | Ngoại trú | Tất cả giai đoạn BTM (chỉ dùng thuốc) | 15.097.654 | NA | |
| Tất cả giai đoạn BTM (dùng thuốc và HD) | 124.553.898 | NA | |||
| GĐ 2 | 7.755.692 | NA | |||
| GĐ 3 | 19.845.036 | NA | |||
| GĐ 4 | 18.007.792 | NA | |||
| GĐ 5 | 47.515.888 | NA | |||
Chú thích: ESKD (end stage kidney disease): bệnh thận giai đoạn cuối; IP (inpatient): điều trị nội trú; OP (outpatient): điều trị ngoại trú; TTT: điều trị thay thế thận; HD (hemodialysis): thẩm tách máu; PD (peritoneal dialysis): thẩm phân phúc mạc; *: bảo hiểm thương mại; **: bảo hiểm Medicare; Tất cả chi phí đã được quy đổi về VNĐ 2024
3.4. Chi phí y tế trực tiếp theo các đơn vị đo lường khác
Bảng 3 trình bày các nghiên cứu báo cáo chi phí theo đơn vị khác ngoài PPPY, như chi phí theo tháng, theo đợt điều trị nội trú hoặc theo chu kỳ. Mặc dù đơn vị đo lường khác nhau, xu hướng nhìn chung vẫn nhất quán với Bảng 2: chi phí tăng theo mức độ nặng của bệnh và cao hơn ở các nhóm có điều trị TTT. Trong các nghiên cứu có báo cáo cấu phần, chi phí thẩm tách máu hoặc chi phí nhập viện thường là khoản chi lớn nhất.
Bảng 3. Chi phí y tế trực tiếp/người bệnh theo các đơn vị khác (ĐVT: VNĐ 2024)
| Tác giả, năm XB,
bối cảnh |
Đơn vị chi phí | Nhóm người bệnh BTM | Tổng chi phí y tế trực tiếp | Cấu phần chi phí có giá trị lớn nhất |
| Quan điểm xã hội | ||||
| Arodiwe, 2024, OP+IP (14) | 1 tháng | Tất cả giai đoạn BTM (bao gồm HD) | 12.123.426 | CP HD: 11.061.048 |
| Quan điểm nhà cung cấp dịch vụ y tế | ||||
| Adejumo, 2020, IP (9) | Đợt điều trị nội trú | Tất cả giai đoạn BTM | 21.223.040 | CP HD: 9.853.504 |
| GĐ 3 – GĐ 4 | 13.506.338 | NA | ||
| GĐ 5 | 22.439.947 | NA | ||
| Quan điểm cơ quan chi trả | ||||
| Anutrakul-chai, 2016, IP (13) | Đợt điều trị nội trú | Tất cả giai đoạn BTM/ dữ liệu bảo hiểm UCS | 13.904.699 | NA |
| Tất cả giai đoạn BTM/ dữ liệu bảo hiểm CSMBS | 34.155.802 | NA | ||
| Tất cả giai đoạn BTM/ dữ liệu bảo hiểm SHI | 31.253.499 | NA | ||
| Randall, 2024, IP+OP (4) | Năm 2019 | Tất cả người bệnh BTM khu vực Tây Úc | 4.109.012.863.125 | CP HD: 758.766.579.838 |
| Balducci, 2025, OP (15) | 6 tháng | Tất cả giai đoạn BTM | 30.363.460 | CP nhập viện: 12.084.358 |
| eGFR ≥ 60ml/phút/1,73m2 | 22.617.455 | CP nhập viện: 9.520.348 | ||
| eGFR = 30–59 ml/phút/1,73m2 | 32.908.756 | CP nhập viện: 13.343.513 | ||
| eGFR < 30 ml/phút/1,73m2 | 45.317.633 | CP nhập viện: 18.624.368 | ||
Chú thích: IP (inpatient): điều trị nội trú; OP (outpatient): điều trị ngoại trú
3.5. Gánh nặng biến cố tăng kali máu
Bên cạnh các yếu tố liên quan đến tiến triển bệnh và điều trị thay thế thận, tăng kali máu được ghi nhận là một biến cố quan trọng liên quan đến gia tăng gánh nặng lâm sàng và kinh tế trong điều trị bệnh thận mạn ở một số nghiên cứu đưa vào tổng quan.
Trong nghiên cứu hồi cứu sử dụng dữ liệu hồ sơ bệnh án điện tử của Golestaneh và cộng sự (2017), tăng kali máu (định nghĩa là nồng độ kali huyết thanh ≥5,1 mEq/L) được ghi nhận với tỷ lệ tăng dần theo giai đoạn bệnh ở cả hai cơ sở dữ liệu bảo hiểm. Ở các giai đoạn trung gian (giai đoạn 2–3b), tỷ lệ này dao động từ 19–42% trong cơ sở dữ liệu bảo hiểm thương mại và bảo hiểm Medicare; trong khi đó, ở các giai đoạn muộn (giai đoạn 4–5) và bệnh thận giai đoạn cuối, tỷ lệ tương ứng tăng lên 56–66% và 58–73%. Phân tích hậu kiểm đơn biến cho thấy tăng kali máu có xu hướng làm tăng tái nhập viện trong vòng 30 ngày, tuy nhiên ý nghĩa thống kê chỉ ghi nhận ở một số giai đoạn, gồm giai đoạn 2 và bệnh thận giai đoạn cuối trong cơ sở dữ liệu bảo hiểm thương mại, giai đoạn 2 và 3b trong cơ sở dữ liệu bảo hiểm Medicare. Trong các mô hình hồi quy đa biến đánh giá tổng chi phí y tế trực tiếp hằng năm, chi phí dự đoán ở người bệnh có tăng kali máu đều cao hơn so với người bệnh không tăng kali máu ở cả hai cơ sở dữ liệu. Ở giai đoạn 2–3b, mức chênh lệch chi phí dao động từ 12–18% trong cơ sở dữ liệu bảo hiểm thương mại và 0–11% trong cơ sở dữ liệu bảo hiểm Medicare. Ở giai đoạn 4–5 và bệnh thận giai đoạn cuối, mức gia tăng chi phí rõ rệt hơn, chi phí dự đoán cao hơn lần lượt 38% ở bệnh thận mạn giai đoạn 4–5 và 57% ở bệnh thận giai đoạn cuối trong cơ sở dữ liệu bảo hiểm thương mại, so với mức tăng tương ứng 22% và 26% trong cơ sở dữ liệu bảo hiểm Medicare.
Trong nghiên cứu trên người bệnh BTM nhập viện tại Thái Lan, Anutrakulchai và cộng sự (2016) ghi nhận tăng kali máu là một biến chứng tương đối thường gặp trong điều trị nội trú, với 14,9% người bệnh xuất hiện tăng kali máu trong đợt nhập viện. Phân tích đa biến đánh giá các yếu tố liên quan đến chi phí điều trị cho thấy tăng kali máu liên quan độc lập với gia tăng chi phí điều trị nội trú, với tỷ lệ nhập viện có chi phí trên 50.000 baht cao hơn ở nhóm có tăng kali máu so với nhóm không tăng kali máu (10,8% so với 7,3%) và tỷ số chênh (OR) hiệu chỉnh là 1,17 (khoảng tin cậy 95%: 1,11–1,23; p <0,001), sau khi đã điều chỉnh theo đặc điểm nhân khẩu học, tuyến điều trị, các bệnh mắc kèm và biến chứng khác.
Nghiên cứu quan sát quy mô lớn tại Tây Ban Nha của Escobar và cộng sự (2021) ghi nhận tăng kali máu là một trong những bệnh đồng mắc nền trong quần thể người bệnh BTM, nhưng không phân tích biến này như một kết cục độc lập về chi phí hay mức độ sử dụng nguồn lực y tế.
IV. BÀN LUẬN
Kết quả tổng quan hệ thống cho thấy chi phí y tế trực tiếp trong điều trị BTM tăng theo mức độ tiến triển của BTM và cao nhất ở giai đoạn điều trị TTT. Xu hướng này được ghi nhận nhất quán giữa các quan điểm phân tích, bối cảnh chăm sóc và đơn vị đo lường chi phí. Ở giai đoạn sớm và trung gian, chi phí thường ở mức tương đối thấp do nhu cầu điều trị chủ yếu là theo dõi và kiểm soát bệnh nền. Khi bệnh tiến triển đến giai đoạn muộn trước điều trị TTT, chi phí tăng rõ do gia tăng biến chứng, nhu cầu điều trị nội trú và can thiệp chuyên sâu. Khi bước vào điều trị TTT, chi phí tăng vọt do phát sinh các khoản chi bắt buộc và lặp lại với tần suất cao (lọc máu chu kỳ hoặc lọc màng bụng), cùng với chi phí kỹ thuật, vật tư tiêu hao và theo dõi định kỳ trong cả giai đoạn khởi trị và duy trì.
Các nghiên cứu cũng cho thấy cấu phần chi phí lớn nhất thay đổi theo quần thể và cách phân tầng bệnh. Trong các nghiên cứu bao phủ toàn bộ quần thể BTM hoặc phân tầng theo eGFR, chi phí nhập viện thường chiếm tỷ trọng lớn, cho thấy vai trò quan trọng của các biến cố cấp trong gánh nặng chi phí. Ngược lại, ở BTM giai đoạn muộn chưa TTT, chi phí thuốc có xu hướng nổi bật hơn, phản ánh nhu cầu điều trị nội khoa kéo dài để kiểm soát các rối loạn do suy giảm chức năng thận và các biến chứng kèm theo. Khi người bệnh bước vào HD hoặc PD, chi phí điều trị TTT trở thành cấu phần chi phối. Mặc dù mức chi phí tuyệt đối dao động rộng giữa các nghiên cứu do khác biệt về nguồn dữ liệu, bối cảnh chăm sóc, quần thể nghiên cứu và cơ chế tài chính y tế, chiều hướng tăng chi phí theo giai đoạn BTM vẫn rất nhất quán.
Ba nghiên cứu tiến hành tại Việt Nam cũng ghi nhận xu hướng tương tự, cho thấy gánh nặng chi phí không chỉ tập trung ở giai đoạn cuối mà tăng dần trong suốt tiến trình bệnh. Nghiên cứu của Hải Yến ghi nhận chi phí tăng từ 228,6 nghìn đồng ở giai đoạn một lên 7,7 triệu đồng ở giai đoạn năm chưa TTT và 28,8 triệu đồng ở giai đoạn cuối (5), trong khi Thái Quang cho thấy chi phí tăng từ 16,9 triệu đồng ở giai đoạn 1–3 lên 71,7 triệu đồng ở nhóm thẩm tách máu (27). Các số liệu này gợi ý rằng trong bối cảnh Việt Nam, ưu tiên quản lý không nên chỉ đặt ở giai đoạn TTT mà cần tập trung nhiều hơn vào các giai đoạn trước đó, thông qua phát hiện sớm ở nhóm nguy cơ cao, theo dõi ngoại trú liên tục và kiểm soát biến chứng nhằm làm chậm tiến triển bệnh và hạn chế nhập viện có thể phòng tránh.
Bên cạnh tiến triển bệnh và điều trị TTT, tổng quan này còn cho thấy tăng kali máu là một biến cố có liên quan đến gia tăng chi phí điều trị ở người bệnh BTM. Các nghiên cứu hiện có ghi nhận tăng kali máu xuất hiện thường hơn ở giai đoạn muộn và đi kèm với chi phí cao hơn, đặc biệt ở nhóm giai đoạn 4–5 và bệnh thận giai đoạn cuối. Điều này có thể phản ánh mức độ phức tạp lâm sàng cao hơn, nhu cầu theo dõi sát hơn và nguy cơ can thiệp cấp tính hoặc nhập viện cao hơn ở nhóm người bệnh này. Mặc dù số lượng nghiên cứu còn hạn chế, kết quả hiện có gợi ý rằng kiểm soát tốt các biến chứng như tăng kali máu có thể góp phần giảm gánh nặng chi phí trong quản lý BTM.
Tổng quan này còn tồn tại một số hạn chế. Các nghiên cứu đưa vào khác nhau đáng kể về bối cảnh chăm sóc, nguồn dữ liệu, quan điểm nghiên cứu và đơn vị đo lường chi phí, dẫn đến mức độ không đồng nhất trong các ước tính được báo cáo. Bên cạnh đó, không phải nghiên cứu nào cũng tách bạch hoàn toàn chi phí điều trị BTM với chi phí điều trị các biến chứng hoặc bệnh lý liên quan, do đó kết quả cần được diễn giải theo phạm vi chi phí mà từng nghiên cứu gốc sử dụng.
V. KẾT LUẬN
Kết quả tổng quan hệ thống cho thấy chi phí y tế trực tiếp trong điều trị bệnh thận mạn tăng dần theo mức độ tiến triển bệnh và đạt mức cao nhất khi người bệnh bước vào giai đoạn điều trị TTT. Mặc dù mức chi phí tuyệt đối khác nhau giữa các bối cảnh, các bằng chứng hiện có nhất quán ở chiều hướng chi phí tăng theo giai đoạn BTM, phản ánh gánh nặng kinh tế ngày càng lớn của bệnh. Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của các chiến lược quản lý BTM theo tiến trình bệnh, bao gồm phát hiện sớm, quản lý ngoại trú liên tục và chuẩn bị điều trị TTT có kế hoạch, nhằm góp phần giảm gánh nặng chi phí cho hệ thống y tế và người bệnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Stevens PE, Ahmed SB, Carrero JJ, Foster B, Francis A, Hall RK, et al. KDIGO 2024 Clinical Practice Guideline for the Evaluation and Management of Chronic Kidney Disease. Kidney International. 2024;105(4):S117-S314.
- Mark PB, Stafford LK, Grams ME, Aalruz H, Abd ElHafeez S, Abdelgalil AA, et al. Global, regional, and national burden of chronic kidney disease in adults, 1990-2023, and its attributable risk factors: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2023. The Lancet. 2025;406(10518):2461-82.
- Jha V, Al-Ghamdi SMG, Li G, Wu MS, Stafylas P, Retat L, et al. Global Economic Burden Associated with Chronic Kidney Disease: A Pragmatic Review of Medical Costs for the Inside CKD Research Programme. Adv Ther. 2023;40(10):4405-20.
- Randall S, Lee CMY, Thomas E, Chakera A, Chai KEK, Varhol R, et al. Estimating the cost of chronic kidney disease in Australia. BMC Health Serv Res. 2024;24(1):1468.
- Nguyen-Thi HY, Le-Phuoc TN, Tri Phat N, Truong Van D, Le-Thi TT, Le NDT, et al. The Economic Burden of Chronic Kidney Disease in Vietnam. Health Serv Insights. 2021;14:11786329211036011.
- Preferred Reporting Items for Systematic reviews and Meta-Analyses. PRISMA 2020 2020 [Available from: https://www.prisma-statement.org/prisma-2020?utm_source.
- The Campbell & Cochrane Economics Methods Group (CCEMG) and the EPPI Centre. CCEMG–EPPI Centre Cost Converter’ (v.1.7 last update: January 2024) [Available from: https://eppi.ioe.ac.uk/costconversion/.
- Larg A, Moss JR. Cost-of-Illness Studies. PharmacoEconomics. 2011;29(8):653-71.
- Adejumo OA, Akinbodewa AA, Ogunleye A, Enikuomehin AC, Lawal OM. Cost implication of inpatient care of chronic kidney disease patients in a tertiary hospital in Southwest Nigeria. Saudi J Kidney Dis Transpl. 2020;31(1):209-14.
- World bank. World Bank country classifications by income level for 2024-2025 [Available from: https://blogs.worldbank.org/en/opendata/world-bank-country-classifications-by-income-level-for-2024-2025.
- Ahlawat R, Tiwari P, D’Cruz S. Direct Cost for Treating Chronic Kidney Disease at an Outpatient Setting of a Tertiary Hospital: Evidence from a Cross-Sectional Study. Value Health Reg Issues. 2017;12:36-40.
- Aoun M, Helou E, Sleilaty G, Zeenny RM, Chelala D. Cost of illness of chronic kidney disease in Lebanon: from the societal and third-party payer perspectives. BMC Health Serv Res. 2022;22(1):586.
- Anutrakulchai S, Mairiang P, Pongskul C, Thepsuthammarat K, Chan-On C, Thinkhamrop B. Mortality and treatment costs of hospitalized chronic kidney disease patients between the three major health insurance schemes in Thailand. BMC Health Serv Res. 2016;16(1):528.
- Arodiwe EB, Arodiwe IO, Okoronkwo I. Direct and Indirect Cost of Treatment for Chronic Kidney Disease among Patients at the Renal Unit of the University of Nigeria Teaching Hospital, Enugu. Ethiop J Health Sci. 2024;34(6):536-42.
- Balducci F, Di Rosa M, Roller-Wirnsberger R, Wirnsberger G, Mattace-Raso F, Tap L, et al. Healthcare costs in relation to kidney function among older people: the SCOPE study. Eur Geriatr Med. 2025;16(1):135-48.
- Betts KA, Song J, Elliott J, Warnock N, Farej R, Wu A, Singh R. Geographical variation in kidney function testing and associations with health care costs among patients with chronic kidney disease and type 2 diabetes. Am J Manag Care. 2022;28(6 Suppl):S112-s9.
- Chrifi Alaoui A, Elomari M, Qarmiche N, Kouiri O, Chouhani BA, El Rhazi K, et al. Management of Chronic Kidney Disease in Morocco: A Cost-of-Illness Study. Cureus. 2023;15(6):e40537.
- Chung H, Crowe CL, Kong SX, Singh R, Farej R, Elliott J, et al. Descriptive study of the economic burden among patients with type 2 diabetes mellitus, chronic kidney disease, and chronic kidney disease and type 2 diabetes mellitus in a large US commercially insured population. J Manag Care Spec Pharm. 2023;29(1):80-9.
- Escobar C, Palacios B, Aranda U, Capel M, Sicras A, Sicras A, et al. Costs and healthcare utilisation of patients with chronic kidney disease in Spain. BMC Health Serv Res. 2021;21(1):536.
- Gandjour A, Armsen W, Wehmeyer W, Multmeier J, Tschulena U. Costs of patients with chronic kidney disease in Germany. PLoS ONE. 2020;15(4).
- Golestaneh L, Alvarez PJ, Reaven NL, Funk SE, McGaughey KJ, Romero A, et al. All-cause costs increase exponentially with increased chronic kidney disease stage. Am J Manag Care. 2017;23(10 Suppl):S163-s72.
- Liu X, Mao YH, Wang HT, Chen XG, Zhao B, Sun Y. Path Analysis on Medical Expenditures of 855 Patients with Chronic Kidney Disease in a Hospital in Beijing. Chinese Medical Journal. 2018;131(1):25-31.
- Manns B, Hemmelgarn B, Tonelli M, Au F, So H, Weaver R, et al. The Cost of Care for People With Chronic Kidney Disease. Canadian Journal of Kidney Health and Disease. 2019;6.
- McQueen RB, Farahbakhshian S, Bell KF, Nair KV, Saseen JJ. Economic burden of comorbid chronic kidney disease and diabetes. Journal of Medical Economics. 2017;20(6):585-91.
- Nagai K, Iseki C, Iseki K, Kondo M, Asahi K, Saito C, et al. Higher medical costs for CKD patients with a rapid decline in eGFR: A cohort study from the Japanese general population. PLoS ONE. 2019;14(5).
- Nguyen PTL, Vo TQ, Hong HN. Chronic kidney diesease-economic impact: A Vietnamese hospital perspective, 2014–2017. Journal of Clinical and Diagnostic Research. 2018;12(6):LC72-LC8.
- Nguyen TQ, Vo TQ, Luu GH, Le NQ. Socioeconomic costs of chronic kidney disease: Evidence from southwest Vietnam. Journal of Clinical and Diagnostic Research. 2018;12(6):LC99-LC105.
- Songsermlosakul S, Permsuwan U, Singhan W. Treatment costs for patients with chronic kidney disease who received multidisciplinary care in a district hospital in thailand. ClinicoEconomics and Outcomes Research. 2020;12:223-31.
- van Oosten MJM, Logtenberg SJJ, Leegte MJH, Bilo HJG, Mohnen SM, Hakkaart-van Roijen L, et al. Age-related difference in health care use and costs of patients with chronic kidney disease and matched controls: analysis of Dutch health care claims data. Nephrol Dial Transplant. 2020;35(12):2138-46.
- Turchetti G, Bellelli S, Amato M, Bianchi S, Conti P, Cupisti A, et al. The social cost of chronic kidney disease in Italy. Eur J Health Econ. 2017;18(7):847-58.







