Siêu vi khuẩn kháng thuốc không quá nguy hại!

0
237
(Bee) Loại siêu vi khuẩn (VK) mà các chuyên gia y tế thế giới có cảnh báo thực chất chỉ là một loại VK không đáng sợ. Nguy cơ lây bệnh chủ yếu từ những người du lịch chữa bệnh chứ không phải du lịch thông thường.

Việt Nam cũng có nhiều loại VK kháng kháng sinh

GS.TS Nguyễn Mạnh Hùng, trưởng khoa Dược lý, Học viện Quân Y 103 cảnh báo, chúng ta không nên quá lo lắng về loại “siêu vi khuẩn” lây lan từ Ấn Độ, Pakistan sang Anh đang được cảnh báo lan rộng ra thế giới và kháng tất cả các loại kháng sinh (KS), kể cả loại mạnh nhất là carbapenem.

Nghiên cứu cho thấy, đây không phải là loại “siêu vi khuẩn” như cảnh báo mà cũng chỉ là một loại VK kháng thuốc khác. Đây là loại VK tiết ra enzym NDM-1. Loại men này có thể kháng lại hầu hết mọi loại thuốc KS, kể cả nhóm KS mạnh nhất là carbapenem. Cơ chế kháng thuốc của nó truyền qua plasmid tức là truyền từ VK này sang VK khác.

d
Loại siêu vi khuẩn (VK) mà các chuyên gia y tế thế giới có cảnh báo thực chất chỉ là một loại VK không đáng sợ.

ThS Lê Quốc Thịnh, trưởng khoa Dược, Bệnh viện TƯ Quân đội 171 Thanh Hóa cho biết, chúng ta cũng đã ghi nhận một vài loại VK tương tự có khả năng kháng tất cả loại NDM-1 như VK mang gen IMP, VIM… cũng kháng thuốc họ carbapenem.

Phổ biến nhất là nhóm gram âm đường ruột. Các loại VK này tiết ra một chất men phân hủy gọi chung là carbapenemase, làm giảm tính nhạy cảm của nhóm KS carbapenem. Men này có rất nhiều loại, trong đó men NDM -1 vừa phát hiện ở Ấn Độ.

Một số nghiên cứu tại các bệnh viện cho thấy, VK kháng thuốc nhóm carbapenem chiếm tỷ lệ khá cao, khoảng 1 – 4% chủng VK gây bệnh đường ruột. Các bệnh viện trung ương vẫn tiếp nhận những ca nhiễm loại VK này.

Trong những trường hợp này, các bác sĩ phải chọn cách “bao vây”, áp dụng nhiều biện pháp, chọn các loại KS còn nhạy cảm, phối hợp nhiều KS, điều chỉnh liều thuốc… Tuy nhiên, chi phí điều trị tăng cao và hiệu quả điều trị không đảm bảo.

Đột biến gen gây kháng thuốc

Theo các chuyên gia, kháng sinh là  những chất dùng để ức chế sự phát triển của VK hoặc tiêu diệt VK ngay ở nồng độ thấp. Thuốc có nhiều loại và mỗi loại chỉ gây rối loạn một phản ứng sinh học nhất định của tế bào VK và làm cho chúng ngừng phát triển.

Vì vậy, KS được dùng trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn hoặc điều trị dự phòng các bệnh nhiễm khuẩn có khả năng gây thành dịch. Thuốc KS cũng được sử dụng dự phòng trong các cuộc phẫu thuật nhằm chống nhiễm trùng bệnh viện. Tuy nhiên, việc lạm dụng thuốc KS, sử dụng không đủ liều, không đủ ngày và không đúng với loại mà VK nhạy cảm đã khiến cho tình trạng kháng thuốc ngày càng gia tăng…

ThS Thịnh phân tích, VK đạt được khả năng kháng thuốc đó là nhờ chúng có đặc tính sinh sản bằng cách nhân đôi theo cấp số nhân cực kỳ nhanh, khả năng đột biến gen (biến đổi yếu tố di truyền) có thể truyền lại cho các thế hệ tiếp theo.

Dưới tác dụng của một liều thuốc KS khi đang còn hiệu lực, đa số VK sẽ bị tiêu diệt, nhưng cũng có một số ít thoát chết và chúng sẽ phát triển theo nguyên lý chọn lọc tự nhiên của Darwin. Các VK đều phụ thuộc vào môi trường sống của chúng để tồn tại, mỗi loài VK phải có đầy đủ một bộ enzym để chiết ra các chất dinh dưỡng từ môi trường.

Nếu môi trường sống bình thường bị thay đổi hay nhiễm độc, một số VK sẽ chết vì thiếu enzym để thích nghi. Nhưng có một số VK có khả năng thích nghi mau lẹ với môi trường mới bằng cách đột biến sản sinh ra những enzym mới, phù hợp với hoàn cảnh.

Theo GS.TS Hùng, để hạn chế việc VK kháng lại thuốc KS nên sử dụng KS một cách hợp lý theo nguyên tắc: chỉ dùng để điều trị bệnh nhiễm khuẩn. Không dùng KS để điều trị bệnh do virus gây ra. Đối với vi nấm đã có thuốc dùng riêng cho chúng. Ngay từ đầu chỉ nên dùng KS có phổ hẹp. Ở cơ sở y tế nào có điều kiện làm KS đồ thì nên dựa vào kết quả KS đồ để lựa chọn cho phù hợp với từng loài VK gây nên từng loại bệnh. 

Thúy Nga