THÁI THANH TRÚC, NGUYỄN LÂN VIỆT,
PHẠM THỊ THU PHƯƠNG, NGUYỄN THỊ THU AN,
TRẦN NGUYỄN THỤC VY, PHẠM VĨNH NGHI,
LÊ TRƯỜNG AN, LÊ ĐỨC VIỆT
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tăng huyết áp chưa kiểm soát (THACKS) vẫn là một thách thức lớn trong thực hành lâm sàng do làm gia tăng nguy cơ biến cố tim mạch và tử vong. Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận sự khác biệt về đặc điểm lâm sàng, hành vi lối sống, đặc điểm điều trị và các yếu tố liên quan đến tình trạng THACKS, tuy nhiên kết quả còn chưa thống nhất.
Mục tiêu: Xác định đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân THACKS thông qua tổng quan hệ thống và phân tích gộp.
Từ khóa: tăng huyết áp không kiểm soát, đặc điểm lâm sàng, yếu tố liên quan, tổng quan hệ thống, phân tích gộp.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một trong những bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất và là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm trên toàn cầu. Cùng với quá trình già hóa dân số, đô thị hóa và thay đổi lối sống, gánh nặng bệnh tật do THA tiếp tục gia tăng ở cả các quốc gia phát triển và đang phát triển.1 Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), năm 2024 ước tính có hơn 1,4 tỷ người trưởng thành từ 30-79 tuổi mắc THA, chiếm khoảng 33% dân số trong nhóm tuổi này. Mặc dù THA có thể được phát hiện dễ dàng thông qua đo huyết áp và đã có nhiều biện pháp điều trị hiệu quả, nhưng vẫn còn khoảng 600 triệu người (44%) mắc bệnh chưa được chẩn đoán. Trong số những người mắc THA, chỉ khoảng 44% người bệnh được điều trị và có tới khoảng 77% vẫn chưa kiểm soát được huyết áp đạt mục tiêu. Điều này cho thấy tăng huyết áp chưa kiểm soát (THACKS) vẫn là một thách thức lớn đối với hệ thống y tế toàn cầu.2 THACKS làm gia tăng đáng kể nguy cơ biến cố tim mạch, suy thận, tử vong và đồng thời làm tăng gánh nặng bệnh tật, chi phí điều trị và áp lực lên hệ thống chăm sóc sức khỏe.3 Chính vì vậy, cải thiện tỷ lệ kiểm soát huyết áp đã được TCYTTG xem là nội dung trọng tâm trong phòng chống bệnh không lây nhiễm, với mục tiêu tăng thêm 150 triệu người được kiểm soát huyết áp trên toàn cầu vào năm 2030.
Nhiều nghiên cứu cho thấy khả năng THACKS chịu ảnh hưởng của cả đặc điểm lâm sàng và đặc điểm điều trị. Các yếu tố như tuổi cao, thời gian mắc bệnh kéo dài, béo phì, đái tháo đường, rối loạn lipid máu và bệnh thận mạn thường gặp ở bệnh nhân THACKS và có liên quan đến khả năng đạt mục tiêu huyết áp thấp hơn.4,5 Những đặc điểm này đồng thời ảnh hưởng đến việc lựa chọn chiến lược điều trị và hiệu quả của thuốc hạ áp. Mặc dù các hướng dẫn hiện hành khuyến cáo ưu tiên khởi trị bằng phối hợp hai thuốc và sử dụng viên phối hợp liều cố định ở đa số bệnh nhân, thực hành sử dụng thuốc vẫn còn khác biệt đáng kể giữa các quốc gia và cơ sở điều trị, từ lựa chọn nhóm thuốc, số lượng thuốc đến hình thức phối hợp. Điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát huyết áp trong thực hành lâm sàng.6,7 Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã mô tả đặc điểm lâm sàng và đặc điểm điều trị ở bệnh nhân THA không kiểm soát. Tuy nhiên, kết quả còn chưa thống nhất do khác biệt về quần thể nghiên cứu, định nghĩa THACKS, tiêu chuẩn đánh giá và cách báo cáo kết quả. Vì vậy, việc tổng hợp các bằng chứng hiện có là cần thiết nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về đặc điểm của bệnh nhân THACKS và thực hành điều trị hiện nay. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm tổng quan và phân tích gộp các bằng chứng hiện có về đặc điểm lâm sàng, đặc điểm điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân THACKS.
PHƯƠNG PHÁP
Nghiên cứu được thực hiện theo PRISMA (2020). Đề cương được đăng ký trên PROSPERO với mã số CRD420261415316.
Tiêu chí chọn mẫu
Các nghiên cứu được chọn vào khi đáp ứng các tiêu chí sau: (1) thực hiện trên người bệnh THA từ 18 tuổi trở lên; (2) bối cảnh nghiên cứu không giới hạn, bao gồm tại cộng đồng, các cơ sở y tế, phòng khám chuyên khoa hoặc bệnh viện. Các nghiên cứu phải thể hiện ít nhất một trong các kết quả quan tâm ở bệnh nhân THACKS, bao gồm đặc điểm lâm sàng (chỉ số BMI, béo bụng, thời gian mắc bệnh, tiền sử gia đình tăng huyết áp, hút thuốc lá, uống rượu bia, hoạt động thể lực, tuân thủ điều trị, bệnh đồng mắc…); đặc điểm điều trị (số lượng thuốc hạ áp, hình thức phối hợp thuốc, nhóm thuốc hạ áp); các yếu tố liên quan đến tình trạng chưa kiểm soát huyết áp. Nghiên cứu chỉ xem xét các bài báo sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh hoặc tiếng Việt. THACKS được xác định theo tiêu chuẩn của từng nghiên cứu gốc (thường là huyết áp ≥140/90 mmHg hoặc ≥130/80 mmHg tùy theo hướng dẫn áp dụng).
Các nghiên cứu loại trừ nếu đối tượng nghiên cứu là phụ nữ mang thai, trẻ em hoặc bệnh nhân tăng huyết áp thứ phát; các bài tổng quan, xã luận, báo cáo ca bệnh hoặc tóm tắt hội nghị. Các nghiên cứu không báo cáo hoặc không trích xuất được số liệu cũng được loại. Đối với các nghiên cứu có dữ liệu trùng lặp, chỉ bài báo có thông tin đầy đủ nhất với mục tiêu nghiên cứu được lựa chọn.
Tìm kiếm dữ liệu và quy trình chọn nghiên cứu
Nghiên cứu tìm kiếm tài liệu trên hai nguồn dữ liệu là PubMed và Embase bằng các từ khóa như “uncontrolled hypertension”, “antihypertensive agents”, “clinical characteristics” và “combination therapy”. Ngoài ra, các tài liệu tiếng Việt được tìm kiếm bổ sung trên thư viện của các đại học Y khoa và các tạp chí y học chuyên ngành bằng các từ khóa tương đương và từ đồng nghĩa như “tăng huyết áp chưa kiểm soát”, “thuốc hạ huyết áp”, “đặc điểm lâm sàng” và “phối hợp thuốc điều trị”. Các nghiên cứu tìm thấy trải qua quy trình lựa chọn tiêu chuẩn bao gồm: lọc trùng lặp, sàng lọc tiêu đề/tóm tắt, đánh giá toàn văn trước khi đưa vào phân tích gộp cuối cùng.
Đánh giá chất lượng nghiên cứu
Quy trình đánh giá chất lượng các nghiên cứu được thực hiện thông qua việc áp dụng bảng kiểm STROBE và các hướng dẫn cập nhật.
Trích xuất dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu được trích xuất bao gồm thông tin chung của nghiên cứu (tác giả, năm xuất bản, địa điểm, thiết kế nghiên cứu, cỡ mẫu), đặc điểm quần thể nghiên cứu (tuổi, giới tính, tiêu chuẩn xác định tăng huyết áp không kiểm soát); đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân THACKS; đặc điểm điều trị ( số lượng thuốc hạ áp, nhóm thuốc hạ áp và hình thức phối hợp thuốc) và đặc điểm lối sống và hành vi (hút thuốc lá, uống rượu bia, hoạt động thể lực, chế độ ăn giảm muối, tuân thủ điều trị và các hành vi liên quan khác).
Phân tích thống kê
Quá trình phân tích dữ liệu được thực hiện trên phần mềm R thông qua gói ‘meta’. Nghiên cứu áp dụng mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (random-effects model) với phương pháp Restricted Maximum Likelihood (REML). Mô hình này được lựa chọn nhằm kiểm soát tính không đồng nhất và ước tính chính xác độ lớn tác động trung bình, trong bối cảnh các nghiên cứu gốc thường có sự sai biệt do đa dạng về thiết kế và đặc điểm quần thể mẫu. Chỉ số I2 được sử dụng để đánh giá mức độ không đồng nhất giữa các nghiên cứu.
KẾT QUẢ
Đặc điểm các nghiên cứu
Bảng 1. Đặc điểm nghiên cứu và dân số nghiên cứu
| Đặc điểm | Nội dung, số bài báo và tỷ lệ |
| Số lượng bài báo đưa vào | · Nghiên cứu Việt Nam: 16 (26,2%)
· Nghiên cứu các nước khác: 45 (73,8%) |
| Địa điểm nghiên cứu | · Hà Nội: 5 (8,2%)
· TP.HCM: 5 (8,2%) · Bắc Giang: 1, Kiên Giang: 1, Cần Thơ: 1, Huế: 1, Sóc Trăng: 1, Hải Phòng: 1 (9,8%) · Khác: 45 (73,8%) |
| Nơi lấy mẫu | · Bệnh viện: 42 (68,9%)
· Cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu: 12 (19,7%) · Cộng đồng: 5 (8,2%) · Dữ liệu hệ thống: 2 (3,2%) |
| Thiết kế nghiên cứu | · Cắt ngang: 56 (91,9%)
· Đoàn hệ tiến cứu: 3 (4,9%) · Đoàn hệ hồi cứu: 2 (3,2%) |
| Số lượng địa điểm | · Đơn trung tâm: 33 (54,1%)
· Đa trung tâm: 28 (45,9%) |
| Chất lượng bài báo | · < 90%: 23 (37,7%)
· ≥ 90%: 38 (62,3%) |
Theo quy trình sàng lọc và lựa chọn tài liệu theo hướng dẫn PRISMA 2020, tổng cộng 61 nghiên cứu được đưa vào phân tích, với 16 nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam và 45 nghiên cứu tại các quốc gia khác. (Hình 1, Phụ lục: www.trim.vn/WnfeaX).
Kết quả đánh giá chất lượng báo cáo cho thấy đa số nghiên cứu đạt mức độ báo cáo tương đối đầy đủ (Hình 2, Phụ lục). Toàn bộ các nghiên cứu đều trình bày đầy đủ cơ sở lý luận, mục tiêu nghiên cứu, các biến số chính, kết quả đầu ra cũng như diễn giải và bàn luận kết quả. Các nội dung liên quan đến thiết kế nghiên cứu cũng được mô tả đầy đủ ở hơn 98,4% số nghiên cứu. Tuy nhiên, mức độ hoàn thiện trong các nội dung về phương pháp nghiên cứu còn chưa đồng đều. Tỷ lệ nghiên cứu báo cáo đầy đủ về hạn chế nghiên cứu, khả năng khái quát hóa kết quả và các biện pháp kiểm soát sai lệch lần lượt là 73,8%, 68,9% và 42,6%.
Đặc điểm bệnh nhân THA chưa kiểm soát
Bảng 2. Đặc điểm dân số xã hội, lâm sàng và hành vi lối sống ở bệnh nhân THACKS
| Đặc điểm sử dụng thuốc | Số lượng nghiên cứu | Tổng số bệnh nhân đưa vào phân tích | Số bệnh nhân mang đặc điểm | Tỷ lệ gộp %
(KTC 95%) |
I² (%) |
| Đặc điểm dân số – xã hội | |||||
| Nhóm tuổi (≥60 tuổi) | 17 | 4.139 | 2.156 | 52,0 (43,0–61,0) | 97,35 |
| Giới tính (nữ) | 37 | 298.458 | 168.782 | 59,0 (58,0–61,0) | 96,90 |
| Đặc điểm lâm sàng | |||||
| Béo bụng | 3 | 14.520 | 8.386 | 75,0 (51,0–99,0) | 99,19 |
| Thời gian mắc THA ≥5 năm | 10 | 2.174 | 1.184 | 53,0 (45,0–61,0) | 93,53 |
| Tiền sử gia đình THA | 9 | 2.826 | 1.609 | 52,0 (30,0–75,0) | 99,29 |
| Mắc kèm đái tháo đường | 20 | 247.462 | 76.508 | 34,0 (29,0–38,0) | 99,53 |
| Mắc kèm bệnh thận mạn | 9 | 2.874 | 315 | 14,0 (8,0–21,0) | 98,01 |
| Mắc kèm rối loạn lipid máu | 10 | 32.741 | 19.870 | 50,0 (44,0–57,0) | 98,88 |
| Mắc kèm bệnh mạch vành | 5 | 15.290 | 3.511 | 23,0 (14,0–32,0) | 97,40 |
| Mắc kèm bệnh động mạch ngoại biên | 3 | 15.660 | 1.269 | 8,0 (3,0–12,0) | 97,93 |
| Tiền sử đột quỵ | 3 | 694 | 39 | 6,0 (4,0–7,0) | 0 |
| Đặc điểm hành vi lối sống | |||||
| Tuân thủ điều trị thuốc | 11 | 4.888 | 2.745 | 59,0 (45,0–74,0) | 99,33 |
| Ăn giảm muối | 10 | 3.040 | 1.997 | 59,0 (45,0–72,0) | 98,43 |
| Hút thuốc lá | 21 | 23.035 | 3.724 | 15,0 (11,0–19,0) | 98,18 |
| Uống rượu bia | 12 | 4.935 | 1.276 | 24,0 (3,0–44,0) | 99,89 |
| Không vận động thể lực | 11 | 3.269 | 2.280 | 56,0 (42,0–71,0) | 99,16 |
Với 44 nghiên cứu trên 1.147.571 ca THA, trong đó có 319.091 trường hợp THACKS, được đưa vào phân tích về đặc điểm lâm sàng, đặc điểm điều trị. Kết quả Bảng 2 cho thấy hơn một nửa bệnh nhân là nữ (59,0%) và từ 60 tuổi trở lên (52,0%). Về các đặc điểm lối sống và hành vi điều trị, ăn giảm muối và tuân thủ điều trị là hai hành vi được ghi nhận ở hơn một nửa số bệnh nhân (59,0%). Bên cạnh đó, không vận động thể lực cũng được ghi nhận với tỷ lệ khá cao (56,0%), trong khi uống rượu bia (24,0%) và hút thuốc lá (15,0%) chiếm tỷ lệ thấp hơn. Về các đặc điểm lâm sàng, tỷ lệ béo bụng là 75,0%, thời gian mắc tăng huyết áp trên 5 năm là 53,0% và tiền sử gia đình mắc tăng huyết áp là 52,0%. Các bệnh đồng mắc thường gặp gồm rối loạn lipid máu (50,0%), đái tháo đường (34,0%), bệnh mạch vành (23,0%) và bệnh thận mạn (14,0%), trong khi bệnh động mạch ngoại biên (8,0%) và tiền sử đột quỵ (6,0%) chiếm tỷ lệ thấp hơn. Độ lọc cầu thận (eGFR) được báo cáo dưới dạng giá trị trung bình trong hai nghiên cứu, lần lượt là 73,7 ± 24,7 và 74,6 ± 17,6 mL/phút/1,73 m². Một trong hai nghiên cứu đồng thời báo cáo phân bố theo các mức eGFR, trong đó 29% bệnh nhân có eGFR <60 mL/phút/1,73 m², bao gồm 24,7% có eGFR 30–59 mL/phút/1,73 m², 2,7% có eGFR 15–29 mL/phút/1,73 m² và 1,6% có eGFR <15 mL/phút/1,73 m². Do cách báo cáo dữ liệu chưa thống nhất và số lượng nghiên cứu còn hạn chế, biến số này không được đưa vào phân tích gộp. Đối với các biến số còn lại, hầu hết các phân tích có mức độ không đồng nhất cao giữa các nghiên cứu (I² >90%).
Khi phân tích riêng tại Việt Nam, chỉ có số ít nghiên cứu báo cáo đặc điểm của bệnh nhân THACKS. Các nghiên cứu hiện có ghi nhận tỷ lệ bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên là 72,0% (KTC 95%: 61,0%–82,0%), nữ chiếm 56,0% (KTC 95%: 51,0%–60,0%), hút thuốc lá 18,0% (KTC 95%: 3,0%–33,0%) và uống rượu bia 23,0% (KTC 95%: 9,0%–38,0%). Về các đặc điểm lối sống và hành vi điều trị, tỷ lệ ăn giảm muối và tuân thủ điều trị lần lượt là 74,0% (KTC 95%: 68,0%–79,0%) và 84,0% (KTC 95%: 66,0%–100,0%), trong khi không vận động thể lực được ghi nhận ở 40,0% bệnh nhân (KTC 95%: 35,0%–46,0%). Về các đặc điểm lâm sàng, tỷ lệ béo bụng là 87,0%, thời gian mắc tăng huyết áp trên 5 năm là 46,0%, tiền sử gia đình tăng huyết áp là 59,0%, đái tháo đường là 31,0%, bệnh thận mạn là 18,0% và rối loạn lipid máu là 64,0%. Chưa có bài báo tại Việt Nam báo cáo tỷ lệ bệnh mạch vành, bệnh động mạch ngoại biên và tiền sử đột quỵ ở nhóm bệnh nhân này.
Bảng 3. Đặc điểm điều trị của bệnh nhân THACKS
| Đặc điểm sử dụng thuốc | Số lượng nghiên cứu | Tổng số bệnh nhân đưa vào phân tích | Số bệnh nhân mang đặc điểm | Tỷ lệ gộp %
(KTC 95%) |
I² (%) |
| Số lượng thuốc | |||||
| Không dùng thuốc | 4 | 17.680 | 238 | 3,0 (1,0–5,0) | 90,02 |
| Đơn trị liệu | 8 | 18.297 | 6.278 | 51,0 (30,0–72,0) | 99,77 |
| Phối hợp 2 thuốc | 8 | 18.297 | 7.725 | 32,0 (18,0–45,0) | 99,31 |
| Phối hợp ≥3 thuốc | 6 | 18.049 | 4.241 | 25,0 (14,0–35,0) | 98,64 |
| Phối hợp thuốc | |||||
| Phối hợp liều cố định | 1 | 184 | 48 | 26,0 (20,0–33,0) | – |
| Phối hợp tự do | 1 | 184 | 136 | 74,0 (67,0–80,0) | – |
| Nhóm thuốc sử dụng | |||||
| ACEi/ARB | 10 | 18.687 | 11.695 | 72,0 (65,0–80,0) | 98,31 |
| CCB | 10 | 18.687 | 7.339 | 45,0 (28,0–63,0) | 99,75 |
| Diuretic | 10 | 18.687 | 7.883 | 46,0 (34,0–58,0) | 99,43 |
| Beta-blocker | 10 | 18.687 | 8.123 | 39,0 (25,0–52,0) | 99,58 |
| Alpha-blocker | 2 | 14.434 | 558 | 4,0 (4,0–4,0) | – |
| MRA | 2 | 1.299 | 21 | 2,0 (1,0–2,0) | 95,19 |
| Vasodilator | 1 | 234 | 23 | 10,0 (7,0–14,0) | – |
(Chú giải: ACEi/ARB: thuốc ức chế men chuyển angiotensin ACEi hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin II – ARB; CCB: thuốc chẹn kênh canxi; Beta-blocker: thuốc chẹn beta giao cảm; Alpha-blocker: thuốc chẹn alpha giao cảm; Diuretic: thuốc lợi tiểu; MRA: thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid; Vasodilator: thuốc giãn mạch).
Kết quả Bảng 3 cho thấy đơn trị liệu là hình thức điều trị phổ biến nhất, với tỷ lệ gộp đạt 51,0% (KTC 95%: 30,0%–72,0%), cao hơn so với phối hợp hai thuốc (32,0%; KTC 95%: 18,0%–45,0%) và phối hợp từ ba thuốc trở lên (25,0%; KTC 95%: 14,0%–35,0%). Trong khi đó, tỷ lệ bệnh nhân không sử dụng thuốc hạ huyết áp chỉ chiếm 3,0% (KTC 95%: 1,0%–5,0%). Hình thức phối hợp thuốc tự do được sử dụng nhiều hơn so với phối hợp liều cố định (74,0% so với 26,0%). Về nhóm thuốc, ACEi/ARB là nhóm thuốc được sử dụng phổ biến nhất, với tỷ lệ gộp 72,0% (KTC 95%: 65,0%–80,0%), tiếp theo là thuốc lợi tiểu (46,0%) và CCB (45,0%), và beta-blocker (39,0%). Các nhóm thuốc khác như vasodilator (10,0%), alpha-blocker (4,0%), MRA (2,0%) được sử dụng với tỷ lệ thấp hơn. Mức độ dị chất giữa các nghiên cứu nhìn chung rất cao, với phần lớn các phân tích có I² >90%.
Tại Việt Nam, chỉ có hai nghiên cứu báo cáo về số lượng thuốc sử dụng, trong đó đơn trị liệu chiếm 61,0% (KTC 95%: 55,0%–68,0%) và phối hợp từ hai thuốc chiếm 39,0% (KTC 95%: 32,0%–45,0%). Đối với các nhóm thuốc, mỗi nhóm chỉ được báo cáo trong một nghiên cứu. Trong đó, ACEi/ARB là nhóm thuốc được sử dụng nhiều nhất với tỷ lệ 84,0% (KTC 95%: 78,0%–89,0%), tiếp theo là thuốc lợi tiểu (77,0%; KTC 95%: 71,0%–83,0%), CCB (74,0%; KTC 95%: 67,0%–79,0%) và beta-blocker (72,0%; KTC 95%: 65,0%–78,0%). Ngoài ra, spironolactone (MRA) được phân loại vào nhóm thuốc lợi tiểu và được sử dụng ở 3,2% tổng số bệnh nhân trong nghiên cứu.
Các yếu tố liên quan đến THACKS
Kết quả phân tích trên 54 nghiên cứu được đưa vào cho thấy THACKS chịu ảnh hưởng đa chiều bởi các yếu tố đặc điểm nền (nhân khẩu học, kinh tế – xã hội), đặc điểm lâm sàng (bệnh đồng mắc, phác đồ điều trị) và đặc điểm hành vi lối sống.

(a) Các yếu tố làm tăng khả năng THACKS

(b) Các yếu tố liên quan không đồng nhất đến THACKS
Biểu đồ 2. Các yếu tố liên quan THACKS
Kết quả các nghiên cứu cho thấy yếu tố bệnh lý và thể trạng khác bao gồm bệnh thận mạn (OR: 2,14–5,36), rối loạn lipid máu hoặc nồng độ LDL-cholesterol tăng cao (OR: 1,17–4,33), thừa cân/béo phì hoặc béo bụng (OR: 1,19–3,32) và các triệu chứng trầm cảm (OR: 1,04–7,75). Về đặc điểm điều trị, thời gian mắc THA kéo dài (OR: 1,01–3,70), phác đồ sử dụng nhiều loại thuốc hạ áp mỗi ngày (OR: 1,09–33,33) và việc điều trị đơn trị liệu (OR: 1,9–8,42) đều làm tăng khả năng chưa kiểm soát huyết áp cao hơn. Đối với các yếu tố hành vi, không tuân thủ điều trị thuốc là rào cản được báo cáo nhiều nhất với OR dao động từ 1,22 đến 17,80. Bên cạnh đó, việc không tuân thủ chế độ ăn giảm muối/thói quen ăn mặn (OR: 1,49–15,10), ít hoạt động thể lực (OR: 1,28–7,63), hút thuốc lá (OR: 1,48–5,20), căng thẳng tâm lý (OR = 2,22), sử dụng nhiều caffeine (OR = 2,659) và thiếu kiến thức về bệnh hoặc chế độ dinh dưỡng (OR: 1,52–1,96) cũng làm tăng THACKS. Về khía cạnh kinh tế – xã hội, các đối tượng sinh sống tại khu vực nông thôn, ngoại thành hoặc hải đảo (OR: 1,39–3,42), thu nhập thấp hoặc thuộc hộ nghèo (OR: 1,61–5,64), trình độ học vấn thấp hoặc mù chữ (OR: 1,50–2,10) và không có bảo hiểm y tế hoặc phải tự chi trả hoàn toàn chi phí điều trị (OR: 1,24–7,20) có THACKS cao hơn (Biểu đồ 2a).
Bên cạnh đó, một số yếu tố nhân khẩu học và tiền sử bệnh lý cho thấy kết quả chưa nhất quán và có sự phân hóa rõ rệt giữa các quần thể nghiên cứu (biểu đồ 2b). Đối với độ tuổi, đa số các báo cáo ghi nhận người cao tuổi (≥60, ≥65 hoặc ≥75 tuổi) có khả năng THACKS cao hơn (OR: 1,26–2,91). Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại chỉ ra xu hướng ngược lại khi nhóm bệnh nhân trẻ tuổi (<50 tuổi hoặc từ 18–40 tuổi) mới là nhóm có khả năng chưa kiểm soát cao hơn (OR: 2,01–5,81). Đối với giới tính, phần lớn nghiên cứu cho thấy nam giới có THACKS cao hơn nữ giới (OR: 1,16– 3,33); tuy nhiên, một số nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển lại ghi nhận nữ giới có THACKS cao hơn (OR nữ/nam: 0,42–0,61). Tương tự, tiền sử gia đình mắc THA hoặc bệnh tim mạch chủ yếu được xem là yếu tố làm tăng khả năng kiểm soát kém (OR: 1,20–2,21), mặc dù vẫn có một số ít nghiên cứu báo cáo mối liên quan theo chiều hướng bảo vệ (OR = 0,38).
BÀN LUẬN
Đặc điểm chung các nghiên cứu, chất lượng nghiên cứu
Kết quả tổng quan ghi nhận có 16/61 (26,2%) nghiên cứu thực hiện tại Việt Nam, và đóng góp một phần đáng kể vào tổng số nghiên cứu được đưa vào phân tích. Tuy nhiên, việc tiếp tục mở rộng nghiên cứu trong nước vẫn cần thiết nhằm bổ sung bằng chứng phù hợp với bối cảnh địa phương. Bên cạnh đó, các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu được thực hiện tại Hà Nội và TP.HCM, cho thấy sự tập trung nguồn lực nghiên cứu tại các đô thị lớn. Về bối cảnh nghiên cứu, phần lớn mẫu được thu thập tại bệnh viện (68,9%). Đặc điểm này có thể ảnh hưởng đến tính đại diện và khả năng áp dụng kết quả cho quần thể chung, đặc biệt là nhóm đối tượng trong cộng đồng. Mặc dù tỷ lệ nghiên cứu đa trung tâm chiếm đến 45,9%, chất lượng nghiên cứu nhìn chung vẫn chưa cao khi có 37,7% bài báo đạt dưới 90% điểm chất lượng. Kết quả này cho thấy việc mở rộng địa điểm khảo sát cần đi kèm với nâng cao chất lượng nghiên cứu nhằm tăng tính chính xác và khả năng ứng dụng của kết quả.
Kết quả đánh giá chất lượng báo cáo cho thấy đa số nghiên cứu tuân thủ tương đối tốt các yêu cầu về phương pháp nghiên cứu, thể hiện qua việc nhiều tiêu chí đạt tỷ lệ báo cáo đầy đủ 100,0% bao gồm cơ sở lý luận, mục tiêu nghiên cứu, bối cảnh thực hiện và phương pháp phân tích thống kê. Trong số các tiêu chí được đánh giá, kiểm soát sai lệch là nội dung được báo cáo còn hạn chế, khi chỉ 42,6% nghiên cứu trình bày đầy đủ và 23,0% không đề cập. Tại Việt Nam có 4/16 (25,0%) nghiên cứu không cung cấp thông tin về nội dung này mặc dù tổng điểm đánh giá chất lượng tương đối cao.4,7-9
Đặc điểm bệnh nhân THACKS
Kết quả phân tích gộp cho thấy bệnh nhân THACKS chủ yếu là người từ 60 tuổi trở lên. Đặc điểm này phù hợp với xu hướng chung được ghi nhận trong các hướng dẫn điều trị tăng huyết áp, trong đó tuổi cao là yếu tố làm gia tăng độ cứng động mạch, gánh nặng bệnh đồng mắc và khó đạt mục tiêu kiểm soát huyết áp hơn so với người trẻ. Tại Việt Nam, tỷ lệ bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên cao hơn kết quả gộp chung, tuy nhiên kết quả này chỉ dựa trên số ít nghiên cứu nên chưa đủ cơ sở để kết luận có sự khác biệt giữa Việt Nam và các quốc gia khác.10 Một điểm đáng chú ý là tỷ lệ béo bụng, thời gian mắc tăng huyết áp trên 5 năm, tiền sử gia đình tăng huyết áp và rối loạn lipid máu đều trên 50%, phản ánh bệnh nhân THACKS thường có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch và bệnh đồng mắc. Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng ghi nhận tỷ lệ béo bụng (87,0%) và rối loạn lipid máu (64,0%) ở mức cao, tuy nhiên bằng chứng hiện còn hạn chế do mỗi đặc điểm chỉ được báo cáo trong số ít nghiên cứu. Về độ lọc cầu thận, một nghiên cứu ghi nhận khoảng một phần ba bệnh nhân có eGFR <60 mL/phút/1,73 m². Điều này cho thấy suy giảm chức năng thận cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể ở bệnh nhân THACKS. Kết quả này phù hợp với cơ chế bệnh sinh, trong đó tăng huyết áp kéo dài thúc đẩy tổn thương cầu thận, đồng thời suy giảm chức năng thận làm tăng giữ muối nước, hoạt hóa hệ renin–angiotensin–aldosterone và hệ thần kinh giao cảm, từ đó khiến việc kiểm soát huyết áp trở nên khó khăn hơn. Các bằng chứng hiện có cho thấy eGFR giảm là một yếu tố liên quan đến huyết áp khó kiểm soát cũng như tăng huyết áp kháng trị. Mức eGFR càng thấp, khả năng đạt mục tiêu huyết áp càng giảm và người bệnh thường cần phối hợp nhiều thuốc hạ huyết áp hơn để kiểm soát huyết áp. Tuy nhiên, kết quả này cần được diễn giải thận trọng do số lượng nghiên cứu còn hạn chế và dữ liệu eGFR chưa được báo cáo thống nhất giữa các nghiên cứu. Điều này có thể do eGFR thường chỉ được khảo sát ở các quần thể đặc thù (như bệnh nhân bệnh thận mạn hoặc tăng huyết áp kháng trị), đồng thời sự khác biệt về khả năng tiếp cận xét nghiệm creatinin giữa các nghiên cứu có thể làm hạn chế tính đầy đủ của dữ liệu. Mặc dù hơn một nửa số bệnh nhân ghi nhận có ăn giảm muối và tuân thủ điều trị, tỷ lệ không vận động thể lực vẫn ở mức cao, cho thấy các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi vẫn còn phổ biến ở nhóm bệnh nhân này.11,12
Đặc điểm sử dụng thuốc ở bệnh nhân THACKS cho thấy đơn trị liệu vẫn là hình thức điều trị phổ biến nhất (51,0%) so với phối hợp hai thuốc (32,0%) và từ ba thuốc trở lên (25,0%), kết quả tương đồng với nhiều nghiên cứu tại Châu Á.13 Tuy nhiên, theo bằng chứng việc điều trị bằng phối hợp hai thuốc giúp kiểm soát huyết áp mục tiêu tốt hơn đơn trị liệu (RR = 1,42; KTC 95%: 1,27–1,58) mà không làm tăng tỷ lệ dừng điều trị do tác dụng không mong muốn.14 Kết quả này cho thấy việc áp dụng khuyến cáo ưu tiên khởi trị bằng phối hợp hai thuốc của Hiệp hội Tăng huyết áp Châu Âu (ESH)15 và Hiệp hội Tăng huyết áp Quốc tế (ISH)16 có thể chưa được áp dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng. Bên cạnh đó, phối hợp thuốc tự do được sử dụng phổ biến hơn rõ rệt so với phối hợp liều cố định (74,0% so với 26,0%). Kết quả này chưa phù hợp với khuyến cáo hiện hành của ESH và ISH, trong đó viên phối hợp liều cố định được ưu tiên do giúp cải thiện tuân thủ điều trị và tăng tỷ lệ kiểm soát huyết áp.15,16 Sự khác biệt này có thể liên quan đến khả năng tiếp cận thuốc, chi phí và thực hành kê đơn tại từng quốc gia. Về nhóm thuốc, ACEi/ARB là nhóm được sử dụng phổ biến nhất, tiếp theo là thuốc lợi tiểu, CCB và beta-blocker. Kết quả này nhìn chung tương đồng với tổng quan hệ thống của Abdelkader và cộng sự (2020)17 và phù hợp với khuyến cáo của ESH và ISH, khi các thuốc ức chế hệ renin–angiotensin, CCB và thuốc lợi tiểu đều được khuyến cáo là các nhóm thuốc khởi trị hàng đầu trong điều trị tăng huyết áp.15,16 Mặc dù beta-blocker không được khuyến cáo là lựa chọn khởi trị thường quy cho đa số bệnh nhân tăng huyết áp, tỷ lệ sử dụng tương đối cao của nhóm thuốc này có thể liên quan đến đặc điểm bệnh nhân THACKS trong các nghiên cứu được tổng hợp, với tỷ lệ bệnh đồng mắc và bệnh tim mạch khá cao, như bệnh mạch vành (23%), đái tháo đường (34%), bệnh thận mạn (14%) và rối loạn lipid máu (50%). Ngược lại, alpha-blocker, MRA và thuốc giãn mạch được sử dụng với tỷ lệ thấp hơn, phù hợp với các khuyến cáo hiện hành khi đây không phải là các nhóm thuốc khởi trị thường quy mà chủ yếu được cân nhắc trong những chỉ định lâm sàng cụ thể hoặc khi cần tăng cường điều trị. Tại Việt Nam, mặc dù số lượng nghiên cứu còn hạn chế, đơn trị liệu vẫn là hình thức điều trị phổ biến nhất (61%). Nhóm thuốc ACEi/ARB là nhóm thuốc được sử dụng phổ biến nhất (84,0%), tiếp theo là thuốc lợi tiểu (77,0%), CCB (74,0%) và beta-blocker (72,0%), riêng spironolactone (MRA) được phân loại vào nhóm thuốc lợi tiểu và chỉ chiếm 3,2%. Tuy nhiên, dữ liệu về từng nhóm thuốc chỉ được ghi nhận từ một nghiên cứu trên những bệnh nhân chưa đạt mục tiêu huyết áp dù đã sử dụng từ ba thuốc trở lên. Vì vậy, khả năng khái quát các kết quả này cho quần thể tăng huyết áp chưa kiểm soát tại Việt Nam còn hạn chế và chưa đủ cơ sở để so sánh trực tiếp với kết quả gộp từ các quốc gia khác.
Các yếu tố liên quan với THACKS
Kết quả cho thấy tình trạng THACKS chịu ảnh hưởng của nhiều nhóm yếu tố lâm sàng, điều trị, hành vi lối sống và kinh tế – xã hội, phù hợp với các tổng quan hệ thống gần đây.18-20 Trong nhóm yếu tố lâm sàng, đái tháo đường, bệnh thận mạn, rối loạn lipid máu, thừa cân/béo phì và thời gian mắc THA kéo dài đều làm tăng nguy cơ THACKS. Kết quả này tương đồng với tổng quan hệ thống của Dewi, trong đó béo phì được xác định là yếu tố nguy cơ có thể thay đổi quan trọng nhất, còn tuổi cao và các bệnh đồng mắc là những yếu tố dự báo không thể thay đổi đối với THACKS ở người cao tuổi.20 Điều này có thể được giải thích bởi béo phì làm tăng hoạt hóa hệ thần kinh giao cảm và hệ renin–angiotensin–aldosterone, gây tăng sức cản mạch máu và giảm đáp ứng với điều trị. Mặt khác, các cytokine tiền viêm cùng với các adipokine do mô mỡ tiết ra, đặc biệt là leptin, và các axit béo bị oxy hóa có thể kích thích sản xuất aldosterone thông qua cơ chế không phụ thuộc hệ renin–angiotensin, góp phần làm tăng giữ natri và nước, tăng sức cản mạch máu và làm nặng thêm tình trạng tăng huyết áp.21 Đồng thời, các bệnh đồng mắc như đái tháo đường hoặc bệnh thận mạn làm gia tăng tổn thương cơ quan đích, tăng độ cứng động mạch và khiến việc kiểm soát huyết áp trở nên khó khăn hơn.20 Tương tự, kết quả nghiên cứu của Aytenew cũng ghi nhận thời gian mắc THA ≥ 5 năm làm tăng nguy cơ THACKS hơn 2 lần (OR = 2,57).19 Những phát hiện này cho thấy sự tiến triển của bệnh cùng với các bệnh đồng mắc làm gia tăng mức độ khó kiểm soát huyết áp.
Đối với các yếu tố hành vi và điều trị, không tuân thủ thuốc là yếu tố được báo cáo thường xuyên nhất và có mức ảnh hưởng lớn nhất. Kết quả này phù hợp với phân tích gộp của Desta và cộng sự, trong đó tuân thủ điều trị thuốc giúp giảm 51% nguy cơ THACKS (OR = 0,49; KTC 95%: 0,34–0,69).18 Đồng thời, nghiên cứu này ghi nhận thời gian điều trị bằng đơn trị liệu và sử dụng nhiều thuốc hạ áp mỗi ngày đều liên quan với nguy cơ THACKS cao hơn. Bên cạnh đó, việc điều trị bằng đơn trị liệu cũng làm tăng nguy cơ THA chưa kiểm soát, điều này phù hợp với các khuyến cáo hiện hành khi liệu pháp phối hợp được ưu tiên ở phần lớn bệnh nhân nhằm tăng tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu. Ngược lại, việc sử dụng nhiều thuốc hoặc nhiều nhóm thuốc hạ áp cũng liên quan với nguy cơ THACKS cao hơn. Điều này có thể được lý giải bởi tình trạng THACKS hoặc THA kháng trị, khiến người bệnh cần được tăng cường điều trị bằng nhiều thuốc hoặc phối hợp nhiều nhóm thuốc để đạt huyết áp mục tiêu. Các nghiên cứu trước đây tại Thái Lan,22 Ethiopia,23 cũng lý giải tương tự với nhóm bệnh nhân THACKS có xu hướng sử dụng nhiều thuốc hạ áp hơn so với nhóm kiểm soát tốt. Do đó, số lượng thuốc hạ áp có thể được xem như một chỉ dấu lâm sàng phản ánh mức độ nghiêm trọng hoặc tính kháng trị của bệnh hơn là yếu tố nguy cơ độc lập đối với THACKS. Tuy nhiên, giả thuyết này cần được kiểm định thêm bằng các nghiên cứu theo dõi dọc hoặc nghiên cứu có khả năng kiểm soát các yếu tố gây nhiễu.
Ngoài ra, ít hoạt động thể lực, chế độ ăn nhiều muối, sử dụng nhiều caffeine và thiếu kiến thức về bệnh cũng làm tăng nguy cơ THACKS, trong khi hoạt động thể lực thường xuyên, chế độ ăn giảm muối, tăng cường rau quả và tự theo dõi huyết áp tại nhà có vai trò bảo vệ. Các kết quả này phù hợp với tổng quan của Aytenew và cộng sự về vai trò của hoạt động thể lực và sử dụng caffeine,19 cũng như nhận định của Dewi rằng các yếu tố có thể thay đổi được như béo phì và lối sống không lành mạnh là những mục tiêu ưu tiên trong quản lý THA.20 Do đó, bên cạnh điều trị bằng thuốc, các chương trình quản lý THA cần ưu tiên các can thiệp thay đổi hành vi như tư vấn dinh dưỡng, khuyến khích hoạt động thể lực phù hợp, giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng tự quản lý bệnh, đồng thời hướng dẫn người bệnh tự theo dõi huyết áp tại nhà và duy trì tái khám định kỳ để cải thiện hiệu quả kiểm soát huyết áp lâu dài.
Một số yếu tố như tuổi, giới tính và tiền sử gia đình cho thấy kết quả chưa thống nhất giữa các nghiên cứu. Trong khi Aytenew và cộng sự ghi nhận người ≥50 tuổi có nguy cơ THACKS cao hơn (OR = 1,57),19 tổng quan của chúng tôi vẫn ghi nhận một số nghiên cứu báo cáo nguy cơ cao hơn ở nhóm bệnh nhân trẻ. Tương tự, kết quả về giới tính và tiền sử gia đình cũng chưa đồng nhất giữa các quần thể nghiên cứu. Những khác biệt này có thể liên quan đến sự khác nhau về đặc điểm dân số, tiêu chuẩn kiểm soát huyết áp, khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và phương pháp nghiên cứu. Nhìn chung, các bằng chứng đều thống nhất rằng những yếu tố có thể thay đổi được, đặc biệt là tuân thủ điều trị, thay đổi lối sống và quản lý bệnh chủ động, là các mục tiêu can thiệp quan trọng nhằm nâng cao tỷ lệ kiểm soát huyết áp.18-20
Đây là một trong số ít nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích gộp tổng hợp đồng thời đặc điểm lâm sàng, đặc điểm điều trị và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp không kiểm soát. Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu là phần lớn các bài báo được đưa vào là nghiên cứu cắt ngang, mức độ không đồng nhất giữa các nghiên cứu còn cao và một số kết quả, đặc biệt tại Việt Nam, chỉ được báo cáo trong số ít nghiên cứu nên cần được diễn giải thận trọng.
KẾT LUẬN
Bệnh nhân THACKS thường có nhiều bệnh đồng mắc và yếu tố nguy cơ tim mạch, trong khi đơn trị liệu vẫn là hình thức điều trị phổ biến nhất. Các yếu tố liên quan đến THACKS chủ yếu là các yếu tố có thể can thiệp, bao gồm không tuân thủ điều trị, lối sống không lành mạnh và kiểm soát các bệnh đồng mắc chưa tối ưu. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết của việc tối ưu hóa điều trị bằng thuốc kết hợp với các can thiệp thay đổi hành vi và quản lý bệnh lâu dài nhằm cải thiện tỷ lệ kiểm soát huyết áp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- World Health Organization. Global report on hypertension. 2023. Accessed 4,2026. https://www.who.int/publications/i/item/9789240081062
- World Health Organization. Hypertension. Updated 9,2025. Accessed 4, 2026. https://www.who.int/news-room/fact-sheets/detail/hypertension
- Cheraghi Z, Azmi-Naei B, Cheraghi P, Doosti-Irani A. The global prevalence of uncontrolled hypertension: a systematic review and meta-analysis. BMC Public Health. 2025;25(1):4259.
- Dương Ngọc Định, Lưu Ngọc Dung, Huỳnh Thanh Hiền. Nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp chưa kiểm soát tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2021-2022. Tạp chí Y dược học Cần Thơ. 2022;(53):34-40.
- Cherfane M, Vallée A, Kab S, et al. Risk factors for uncontrolled blood pressure among individuals with hypertension on treatment: the CONSTANCES population-based study. International journal of epidemiology. 2024;53(2):dyae027.
- Đồng Thị Ngọc Lâm, Nguyễn Thị Bạch Yến. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kết quả kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa huyện Lục Ngạn. Tạp chí Y học Việt Nam. 2021;509(1)
- Lê Trường Giang, Nguyễn Thị Ngọc Vân, Lê Thanh Tâm, Trần Hoàng Thúy Phương. Tình hình sử dụng thuốc tăng huyết áp và đánh giá kết quả điều trị tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2021-2022. Tạp chí Y dược học Cần Thơ. 2022;179(5):567-571.
- Nguyễn Thị Kiều Lam, Huỳnh Thị Phượng. Nghiên cứu tình hình một số yếu tố liên quan ở người bệnh tăng huyết áp được điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Gia An 115 năm 2023–2024. Tạp Chí Khoa học Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng. 2024:109-115.
- Nguyễn Mỹ Anh, Phạm Thị Nhã Trúc, Nguyễn Xuân Mỹ Ngọc. Tình hình kiểm soát huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người Khmer tăng huyết áp tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng năm 2024. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025;549(3)
- McEvoy JW, McCarthy CP, Bruno RM, et al. 2024 ESC Guidelines for the management of elevated blood pressure and hypertension. Eur Heart J. Oct 7 2024;45(38):3912-4018. doi:10.1093/eurheartj/ehae178
- Cheraghi Z, Azmi-Naei B, Cheraghi P, Doosti-Irani A. The global prevalence of uncontrolled hypertension: a systematic review and meta-analysis. BMC Public Health. Dec 17 2025;25(1):4259. doi:10.1186/s12889-025-25553-4
- Aytenew TM, Kassaw A, Simegn A, et al. Uncontrolled hypertension among hypertensive patients in Sub-Saharan Africa: A systematic review and meta-analysis. PLoS One. 2024;19(6):e0301547. doi:10.1371/journal.pone.0301547
- Rahman ARA, Magno JDA, Cai J, et al. Management of Hypertension in the Asia-Pacific Region: A Structured Review. American journal of cardiovascular drugs : drugs, devices, and other interventions. Mar 2024;24(2):141-170. doi:10.1007/s40256-023-00625-1
- Salam A, Kanukula R, Atkins E, et al. Efficacy and safety of dual combination therapy of blood pressure-lowering drugs as initial treatment for hypertension: a systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. Journal of hypertension. Sep 2019;37(9):1768-1774. doi:10.1097/hjh.0000000000002096
- European Society of Hypertension. 2023 ESH guidelines for the management of arterial hypertension. J Hypertens. 2023;41(12):1874-2071.
- International Society of Hypertension. 2020 International Society of Hypertension Global Hypertension Practice Guidelines. Hypertension. 2020/06/01 2020;75(6):1334-1357. doi:10.1161/HYPERTENSIONAHA.120.15026
- Abdelkader NN, Awaisu A, Elewa H, El Hajj MS. Prescribing patterns of antihypertensive medications: A systematic review of literature between 2010 and 2020. Exploratory Research in Clinical and Social Pharmacy. 2023/09/01/ 2023;11:100315. doi:https://doi.org/10.1016/j.rcsop.2023.100315
- Desta M, Yibeltal D, Memiah P, et al. Antihypertensive medications adherence and associated uncontrolled blood pressure among hypertensive patients in Ethiopia: Systematic review and meta-analysis. International Journal of Africa Nursing Sciences. 2022/01/01/ 2022;16:100404. doi:https://doi.org/10.1016/j.ijans.2022.100404
- Aytenew TM, Kassaw A, Simegn A, et al. Uncontrolled hypertension among hypertensive patients in Sub-Saharan Africa: A systematic review and meta-analysis. PLOS ONE. 2024;19(6):e0301547. doi:10.1371/journal.pone.0301547
- Dewi TP, Ahmad A. The Most Common Predictors of Uncontrolled Blood Pressure Among Hypertensive Elders: A Systematic Review. International Journal of Advanced Health Science and Technology. %02/%26 2023;3(1):437-443. doi:10.35882/ijahst.v3i1.210
- Xie D, Bollag WB. Obesity, hypertension and aldosterone: is leptin the link? J Endocrinol. Jul 2016;230(1):F7-f11. doi:10.1530/joe-16-0160
- Sakboonyarat B, Rangsin R, Kantiwong A, Mungthin M. Prevalence and associated factors of uncontrolled hypertension among hypertensive patients: a nation-wide survey in Thailand. BMC Res Notes. Jul 4 2019;12(1):380. doi:10.1186/s13104-019-4417-7
- Knight EL, Bohn RL, Wang PS, Glynn RJ, Mogun H, Avorn J. Predictors of uncontrolled hypertension in ambulatory patients. Hypertension. Oct 2001;38(4):809-14. doi:10.1161/hy0901.091681
PHỤ LỤC


Hình 2. Đánh giá chất lượng bằng bảng kiểm STROBE
Bảng 1. Tóm tắt đặc điểm các nghiên cứu đưa vào tổng quan hệ thống & phân tích gộp












Bảng 3. Tóm tắt các nghiên cứu thể hiện yếu tố liên quan với tăng huyết áp không kiểm áp
























TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Leng Ratana. Nhận xét tình hình kiểm soát huyết áp và một số nguy cơ ở người cao tuổi có tăng huyết áp. Đại học Y Hà Nội; 2011. https://thuvien.hmu.edu.vn/pages/cms/FullBookReader.aspx?Url=/pages/cms/TempDir/books/201810101501-7a03ce86-ad65-41b8-a97c-343a99ee03b7//FullPreview&TotalPage=86&ext=jpg#page/1/mode/2up
- Lê Tuấn Anh. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh nhân tăng huyết áp chưa đạt huyết áp mục tiêu điều trị tại khoa khám bệnh bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8/2011 đến tháng 10/2011. Đại học Y Hà Nội; 2012. https://thuvien.hmu.edu.vn/pages/cms/FullBookReader.aspx?Url=/pages/cms/TempDir/books/201810010838-e668d1ee-fe7b-48a2-b66e-04633717bd59//FullPreview&TotalPage=85&ext=jpg#page/1/mode/2up
- Thân Hồng Anh, Võ Thành Nhân. Đánh giá thực trạng kiểm soát huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi có tăng huyết áp tại Bệnh viện Quân y 175. Tạp chí Y Dược Thực hành 175. 2019;(20):9-9.
- Nguyễn Thanh Danh, Hoàng Văn Quang, Nguyễn Đức Công. Khảo sát một số yếu tố liên quan đến kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát. Tạp chí Y học Việt Nam. 2017;460:5-8.
- Tô Nguyễn Phi Khanh. Khảo sát tình hình sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp và khả năng kiểm soát huyết áp trên bệnh nhân tăng huyết áp điều trị tại Bệnh viện Thống Nhất năm 2016. Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh; 2017. https://library.ump.edu.vn/opac/
- Bùi Thị Nga. Tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu ở bệnh nhân tăng huyết áp ngoại trú tại Bệnh viện Quận Thủ Đức Thành phố Hồ Chí Minh. Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh; 2019. https://library.ump.edu.vn/Viewer/?ID=46A4334B-613A-49E3-B97E-E37C4BED3BA5&t=Ty-le-dat-huyet-ap-muc-tieu-o-benh-nhan-tang-huyet-ap-ngoai-tru-tai-Benh-vien-Quan-Thu-Duc-Thanh-pho-Ho-Chi-Minh-Bui-Thi-Nga
- Nguyen HT, Hoang Thi Phuong N, Tran Nguyen N, Nguyen Anh T, Nguyen Dang V. Characterizing patients with uncontrolled blood pressure at an urban hospital in Hanoi, Vietnam. International Journal of Hypertension. 2020;2020(1):5710281.
- Đồng Thị Ngọc Lâm, Nguyễn Thị Bạch Yến. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kết quả kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa huyện Lục Ngạn. Tạp chí Y học Việt Nam. 2021;509(1)
- Nguyễn Thị Kim Dung. Đánh giá kết quả kiểm soát huyết áp và một số yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp đang được quản lý tại bệnh viện Thanh Nhàn. Đại học Y Hà Nội; 2021. https://thuvien.hmu.edu.vn/pages/cms/FullBookReader.aspx?Url=/pages/cms/TempDir/books/202205120913-a878bd1e-8485-40ce-91cd-86da15f91bb6//FullPreview&TotalPage=127&ext=jpg#page/1/mode/2up
- Dương Ngọc Định, Lưu Ngọc Dung, Huỳnh Thanh Hiền. Nghiên cứu tình hình và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp chưa kiểm soát tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang năm 2021-2022. Tạp chí Y dược học Cần Thơ. 2022;(53):34-40.
- Lê Trường Giang, Nguyễn Thị Ngọc Vân, Lê Thanh Tâm, Trần Hoàng Thúy Phương. Tình hình sử dụng thuốc tăng huyết áp và đánh giá kết quả điều trị tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2021-2022. Tạp chí Y dược học Cần Thơ. 2022;179(5):567-571.
- Nguyễn Vũ Thảo Vy, Đoàn Phạm Phước Long, Trần Thị Thanh Nhàn, Đoàn Phước Thuộc. Nghiên cứu tỷ lệ người bị tăng huyết áp điều trị không đạt mục tiêu và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân điều trị ngoại trú tại phòng khám nội, Bệnh viện Trường Đại học Y-Dược Huế. Tạp chí Y Dược Huế. 2023;13(7):190-190.
- Nguyễn Thị Kiều Lam, Huỳnh Thị Phượng. Nghiên cứu tình hình một số yếu tố liên quan ở người bệnh tăng huyết áp được điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Gia An 115 năm 2023–2024. Tạp Chí Khoa học Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng. 2024:109-115.
- Nguyễn Mỹ Anh, Phạm Thị Nhã Trúc, Nguyễn Xuân Mỹ Ngọc. Tình hình kiểm soát huyết áp và một số yếu tố liên quan ở người Khmer tăng huyết áp tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng năm 2024. Tạp chí Y học Việt Nam. 2025;549(3)
- Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Giao Linh, Nguyễn Thị Thu Hương, Đỗ Thị Tuyết Mai, Hoàng Đinh Phong. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát huyết áp ở người cao tuổi tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp năm 2024. 2025. https://thuvien.hmu.edu.vn/pages/cms/FullBookReader.aspx?Url=/pages/cms/TempDir/books/202509102049-ee4662a9-0499-4e72-81c8-195e79f6a470//FullPreview&TotalPage=7&ext=jpg#page/1/mode/1up
- Trần Thị Thúy Hường. Tuân thủ sử dụng thuốc và một số yếu tố liên quan tới mục tiêu kiểm soát huyết áp ở người bệnh tăng huyết áp điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Đống Đa năm 2024-2025. Đại học Y Hà Nội; 2025. https://thuvien.hmu.edu.vn/pages/cms/FullBookReader.aspx?Url=/pages/cms/TempDir/books/202605060913-b6cbb8e8-15a8-41e6-b1cf-d984aee8468c//FullPreview&TotalPage=101&ext=jpg#page/1/mode/2up
- Knight EL, Bohn RL, Wang PS, Glynn RJ, Mogun H, Avorn J. Predictors of uncontrolled hypertension in ambulatory patients. Hypertension. Oct 2001;38(4):809-14. doi:10.1161/hy0901.091681
- Schrader J, Bramlage P, Lüders S, Thoenes M, Schirmer A, Paar DW. BP goal achievement in patients with uncontrolled hypertension : results of the treat-to-target post-marketing survey with irbesartan. Clin Drug Investig. 2007;27(11):783-96. doi:10.2165/00044011-200727110-00005
- Nicodème R, Albessard A, Amar J, Chamontin B, Lang T. Poor blood pressure control in general practice: in search of explanations. Arch Cardiovasc Dis. Jun-Jul 2009;102(6-7):477-83. doi:10.1016/j.acvd.2009.02.013
- Petrulionienė Z, Apanavičienė DA. Evaluation of arterial hypertension control and treatment in daily practice of family physicians. Medicina (Kaunas). 2010;46(10):657-63.
- Gerber LM, Mann SJ, McDonald MV, Chiu YL, Sridharan S, Feldman PH. Diuretic use in black patients with uncontrolled hypertension. Am J Hypertens. Feb 2013;26(2):174-9. doi:10.1093/ajh/hps029
- Adebolu FA, Naidoo M. Blood pressure control amongst patients living with hypertension presenting to an urban district hospital outpatient clinic in Kwazulu-Natal. Afr J Prim Health Care Fam Med. Jul 28 2014;6(1):E1-6. doi:10.4102/phcfm.v6i1.572
- Chen XJ, Gao XL, You GY, et al. Higher blood pressure control rate in a real life management program provided by the community health service center in China. BMC Public Health. Aug 7 2014;14:801. doi:10.1186/1471-2458-14-801
- Mutua EM, Gitonga MM, Mbuthia B, Muiruri N, Cheptum JJ, Maingi T. Level of blood pressure control among hypertensive patients on follow-up in a regional referral hospital in Central Kenya. Pan Afr Med J. 2014;18:278. doi:10.11604/pamj.2014.18.278.4308
- Weitzman D, Chodick G, Shalev V, Grossman C, Grossman E. Prevalence and factors associated with resistant hypertension in a large health maintenance organization in Israel. Hypertension. Sep 2014;64(3):501-7. doi:10.1161/hypertensionaha.114.03718
- Yang L, Xu X, Yan J, et al. Analysis on associated factors of uncontrolled hypertension among elderly hypertensive patients in Southern China: a community-based, cross-sectional survey. BMC Public Health. Sep 2 2014;14:903. doi:10.1186/1471-2458-14-903
- Khanam MA, Lindeboom W, Razzaque A, Niessen L, Smith W, Milton AH. Undiagnosed and uncontrolled hypertension among the adults in rural Bangladesh: findings from a community-based study. J Hypertens. Dec 2015;33(12):2399-406. doi:10.1097/hjh.0000000000000712
- Farah R, Zeidan RK, Chahine MN, et al. Predictors of Uncontrolled Blood Pressure in Treated Hypertensive Individuals: First Population-Based Study in Lebanon. J Clin Hypertens (Greenwich). Sep 2016;18(9):871-7. doi:10.1111/jch.12775
- Abegaz TM, Tefera YG, Abebe TB. Antihypertensive drug prescription patterns and their impact on outcome of blood pressure in Ethiopia: a hospital-based cross-sectional study. Integrated Pharmacy Research and Practice. 2017;Volume 6:29-35. doi:10.2147/iprp.S124047
- Jahangiry L, Ghanbari J, Abbasalizad Farhangi M, Sarbakhsh P, Ponnet K. Predictors of poor blood pressure control among Iranian hypertensive patients. BMC Res Notes. Dec 4 2017;10(1):668. doi:10.1186/s13104-017-2971-4
- Mbui JM, Oluka MN, Guantai EM, et al. Prescription patterns and adequacy of blood pressure control among adult hypertensive patients in Kenya; findings and implications. Expert Rev Clin Pharmacol. Nov 2017;10(11):1263-1271. doi:10.1080/17512433.2017.1371590
- Animut Y, Assefa AT, Lemma DG. Blood pressure control status and associated factors among adult hypertensive patients on outpatient follow-up at University of Gondar Referral Hospital, northwest Ethiopia: a retrospective follow-up study. Integr Blood Press Control. 2018;11:37-46. doi:10.2147/ibpc.S150628
- Omar SM, Elnour O, Adam GK, Osman OE, Adam I. Assessment of blood pressure control in adult hypertensive patients in eastern Sudan. BMC Cardiovasc Disord. Feb 7 2018;18(1):26. doi:10.1186/s12872-018-0769-5
- Alamian A, Sarfo FS, Mobula LM, et al. Factors associated with uncontrolled blood pressure among Ghanaians: Evidence from a multicenter hospital-based study. Plos One. 2018;13(3)doi:10.1371/journal.pone.0193494
- Shimosawa T, Teshome DF, Demssie AF, Zeleke BM. Determinants of blood pressure control amongst hypertensive patients in Northwest Ethiopia. Plos One. 2018;13(5)doi:10.1371/journal.pone.0196535
- Mitra M, Wulandari W. Factors Affecting Uncontrolled Blood Pressure among Elderly Hypertensive Patients in Pekanbaru City, Indonesia. Open Access Maced J Med Sci. Apr 15 2019;7(7):1209-1213. doi:10.3889/oamjms.2019.255
- Nassr OA, Forsyth P. Evaluation of Blood Pressure Control and Associated Factors among Patients with Hypertension in Iraq: A Prospective Cross-sectional Study. J Pharm Bioallied Sci. Jul-Sep 2019;11(3):232-239. doi:10.4103/jpbs.JPBS_82_19
- Sakboonyarat B, Rangsin R, Kantiwong A, Mungthin M. Prevalence and associated factors of uncontrolled hypertension among hypertensive patients: a nation-wide survey in Thailand. BMC Res Notes. Jul 4 2019;12(1):380. doi:10.1186/s13104-019-4417-7
- Aberhe W, Mariye T, Bahrey D, et al. Prevalence and factors associated with uncontrolled hypertension among adult hypertensive patients on follow-up at Northern Ethiopia, 2019: cross-sectional study. Pan Afr Med J. 2020;36:187. doi:10.11604/pamj.2020.36.187.23312
- Abene EE, Gimba ZM, Edah JO, et al. Blood pressure control and kidney damage in hypertension: Results of a three-center cross-sectional study in North Central Nigeria. Niger J Clin Pract. Nov 2020;23(11):1590-1597. doi:10.4103/njcp.njcp_271_20
- Fekadu G, Adamu A, Gebre M, et al. Magnitude and Determinants of Uncontrolled Blood Pressure Among Adult Hypertensive Patients on Follow-Up at Nekemte Referral Hospital, Western Ethiopia. Integr Blood Press Control. 2020;13:49-61. doi:10.2147/IBPC.S245068
- Kinfe DG, Berhe G, Gidey K, Demoz GT. Blood Pressure Control, Left Ventricular Hypertrophy and Treatment Practice Among Hypertensive Patients in Ethiopia. Int J Gen Med. 2020;13:903-916. doi:10.2147/IJGM.S273668
- Okai DE, Manu A, Amoah EM, Laar A, Akamah J, Torpey K. Patient-level factors influencing hypertension control in adults in Accra, Ghana. BMC Cardiovascular Disorders. 2020;20(1)doi:10.1186/s12872-020-01370-y
- Bahloul A, Hammami R, Charfeddine S, et al. Epidemiological and clinical profile of hypertensive octogenarian patients and factors associated with uncontrolled hypertension: observational study of 346 patients. Pan Afr Med J. 2021;39:202. doi:10.11604/pamj.2021.39.202.28466
- Araujo TP, Borges LGS, Barroso WKS, et al. Factors associated with uncontrolled blood pressure in hypertensive Brazilians. J Clin Hypertens (Greenwich). Jul 2022;24(7):814-824. doi:10.1111/jch.14501
- Ernawati I, Lubada EI, Lusiyani R, Prasetya RA. Association of adherence measured by self-reported pill count with achieved blood pressure level in hypertension patients: a cross-sectional study. Clinical Hypertension. 2022;28(1)doi:10.1186/s40885-022-00195-5
- Fentaw Z, Adamu K, Wedajo S. Blood pressure control status of patients with hypertension on treatment in Dessie City Northeast Ethiopia. BMC Public Health. May 9 2022;22(1):917. doi:10.1186/s12889-022-13368-6
- Yaqoob S, Yaseen M, Jarullah FA, et al. Awareness, treatment, and practices of lifestyle modifications amongst diagnosed hypertensive patients attending the tertiary care hospital of Karachi: A cross-sectional study. Annals of Medicine & Surgery. 2022;82doi:10.1016/j.amsu.2022.104587
- Baray AH, Stanikzai MH, Wafa MH, Akbari K. High Prevalence of Uncontrolled Hypertension Among Afghan Hypertensive Patients: A Multicenter Cross-Sectional Study. Integr Blood Press Control. 2023;16:23-35. doi:10.2147/IBPC.S417205
- Barega B, Seifu L, Melkie A, Abebe S, Taye M. Blood Pressure Control among Adults with Hypertension at a Tertiary Hospital in Ethiopia. Ethiop J Health Sci. Jul 2023;33(4):563-570. doi:10.4314/ejhs.v33i4.2
- Mahabaleshwarkar R, Bond A, Burns R, et al. Prevalence and Correlates of Uncontrolled Hypertension, Persistently Uncontrolled Hypertension, and Hypertensive Crisis at a Healthcare System. Am J Hypertens. Nov 15 2023;36(12):667-676. doi:10.1093/ajh/hpad078
- Qin W, Xu L. Pathways linking relative deprivation to blood pressure control: the mediating role of depression and medication adherence among Chinese middle-aged and older hypertensive patients. BMC Geriatr. Jan 31 2023;23(1):57. doi:10.1186/s12877-023-03769-6
- Aarrad M, Laamiri F, Hilal M, Rajaallah EM. Prevalence and risk factors associated with uncontrolled blood pressure in rural areas in Settat City, Morocco. Pan Afr Med J. 2024;47:200. doi:10.11604/pamj.2024.47.200.42603
- Alshuhri M, Alshehry B, Alotaibi T, Alhalal D. Prevalence and Associated Factors of Uncontrolled Hypertension Among Patients Attending Primary Healthcare Centers in Riyadh, Saudi Arabia. Cureus. Jul 2024;16(7):e64783. doi:10.7759/cureus.64783
- Amaike C, Salami OF, Bamidele OT, et al. Association of depression and anxiety with uncontrolled hypertension: A cross-sectional study in Southwest Nigeria. Indian J Psychiatry. Feb 2024;66(2):157-164. doi:10.4103/indianjpsychiatry.indianjpsychiatry_751_23
- Cheraghi Z, Doosti-Irani M, Sohrabi M, Doosti-Irani A. Predicting Factors Associated With Uncontrolled Hypertension Using Machine Learning Methods: A Cross-Sectional Study in Western Iran. Int J Hypertens. 2025;2025:4011397. doi:10.1155/ijhy/4011397
- Diakengua VN, Sumahili EK, Ntontolo PN, et al. Factors associated to hypertension knowledge and control in Kimpese, Democratic Republic of the Congo. Afr J Prim Health Care Fam Med. Mar 31 2025;17(1):e1-e7. doi:10.4102/phcfm.v17i1.4721
- Elias TP, Minyilshewa AT, Tekle MA, Gebreamlak TW, Adde BL, D. Elia L. Predictors of Antihypertensive Drug Adherence and Blood Pressure Control Among Hypertensive Patients: A Multicenter Cross‐Sectional Study. International Journal of Hypertension. 2025;2025(1)doi:10.1155/ijhy/1055517
- Kaur P, Kriina M, Ganeshkumar P, et al. Scaling India Hypertension Control Initiative strategies to 15 states—treatment outcomes and risk factors for uncontrolled blood pressure, India: a cohort study, 2018–2021. BMJ Open. 2025;15(11)doi:10.1136/bmjopen-2025-106372
- Niriayo YL, Demoz GT, Asgedom SW, Kahsay GG, Gidey K. Effect of Self-Care Activities on Blood Pressure Control Among Patients With Hypertension. Biomed Res Int. 2025;2025:6623871. doi:10.1155/bmri/6623871
- Sohail MM. Prevalence and Predictors of Uncontrolled Hypertension Among Adults Attending Primary Care Clinics in Pakistan. International Journal of Pharmacy Research & Technology (IJPRT). 2025;15(2), 2844–2852.doi:10.48047/ijprt/15.02.365







