Bản tin tổng hợp – Tháng 04/2021

0
340

PHÂN TÍCH TỔNG HỢP MỚI: ĐÓNG LỖ BẦU DỤC THÔNG THƯƠNG Ở TIM LÀM GIẢM CHỨNG ĐAU NỬA ĐẦU

Một phân tích tổng hợp của hai nghiên cứu ngẫu nhiên đánh giá việc đóng lỗ bầu dục thông thương (PFO) như một chiến lược điều trị chứng đau nửa đầu đã cho thấy những lợi ích đáng kể ở một số tiêu chí lâm sàng chính, khiến các tác giả kết luận rằng phương pháp này cần được đánh giá lại.

Phân tích tổng hợp dựa trên dữ liệu bệnh nhân từ các nghiên cứu PRIMA và PREMIUM, cả hai đều dùng dụng cụ Amplatzer để đóng lỗ bầu dục thông thương, cho thấy rằng việc đóng PFO làm giảm đáng kể bình quân số ngày bị đau nửa đầu hàng tháng và số cơn đau nửa đầu hàng tháng và dẫn đến gia tăng số lượng bệnh nhân khỏi hoàn toàn chứng đau nửa đầu.

Nghiên cứu được thực hiện bởi Tiến sĩ Mohammad K. Mojadidi, Đại học Virginia Commonwealth, Richmond và cộng sự và được công bố trực tuyến trên tạp chí Tim mạch Hoa Kỳ vào ngày 8 tháng Hai. Tiến sĩ Zubair Ahmed – Phòng khám Cleveland, Ohio, đồng tác giả của một bài xã luận kèm theo, cho biết phân tích tổng hợp đã đưa ra một số thông tin mới hữu ích nhưng không đủ để khuyến nghị đóng PFO thường xuyên cho bệnh nhân đau nửa đầu. Phân tích tổng hợp này đã xem xét các kết cục lâm sàng khác nhau phù hợp với thực hành lâm sàng hiện tại hơn so với hai nghiên cứu ban đầu và kết quả cho thấy rằng chúng ta không nên loại trừ việc đóng PFO như một chiến lược điều trị cho một số bệnh nhân đau nửa đầu. Nhưng vẫn không chắc chắn chính xác bệnh nhân nào có nhiều khả năng được hưởng lợi từ phương pháp này nhất và cần các nghiên cứu bổ sung để hiểu thêm về điều đó.

Trong bài báo của tạp chí Tim mạch Hoa Kỳ, các tác giả cho thấy có một mối liên hệ giữa sự hiện diện của PFO và chứng đau nửa đầu, đặc biệt là chứng đau nửa đầu có tiền triệu. Trong các nghiên cứu quan sát về việc đóng PFO đối với đột quỵ không rõ nguồn gốc, đại đa số bệnh nhân mắc chứng đau nửa đầu đã báo cáo giảm hơn 50% số ngày đau nửa đầu mỗi tháng sau khi đóng PFO. Tuy nhiên, hai thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên gần đây đánh giá dụng cụ Amplatzer để đóng lỗ bầu dục thông thương nhằm làm giảm tần suất và thời gian của các cơn đau nửa đầu đã không đáp ứng được các tiêu chí lâm sàng chính, mặc dù chúng đã cho thấy lợi ích đáng kể của việc đóng PFO ở hầu hết các tiêu chí lâm sàng phụ.

Phân tích tổng hợp hiện tại đã tổng hợp dữ liệu của những người tham gia từ hai thử nghiệm lâm sàng nhằm tăng khả năng phát hiện tác dụng của việc đóng PFO qua da để điều trị bệnh nhân có các cơn đau nửa đầu so với điều trị nội khoa đơn thuần.

Trong hai nghiên cứu bao gồm tổng cộng 337 bệnh nhân, 176 người được chọn ngẫu nhiên để đóng PFO và 161 người chỉ được điều trị nội khoa. Sau 12 tháng, ba trên bốn tiêu chí lâm sàng được đánh giá trong phân tích tổng hợp đã giảm đáng kể ở nhóm đóng PFO, gồm giảm bình quân số ngày đau nửa đầu hàng tháng (–3,1 ngày so với –1,9 ngày; p = 0,02), giảm bình quân các cơn đau nửa đầu hàng tháng (–2,0 so với –1,4; p = 0,01) và số bệnh nhân đã khỏi hoàn toàn chứng đau nửa đầu (9% so với 0,7%; p < 0,001). Tỷ lệ đáp ứng, được định nghĩa là giảm hơn 50% các cơn đau nửa đầu, cho thấy xu hướng đáp ứng gia tăng trong nhóm đóng PFO nhưng không đạt được ý nghĩa thống kê (38% so với 29%; p = 0,13). Trên phương diện an toàn, 9 biến cố ngoại ý liên quan đến quy trình và 4 biến cố ngoại ý liên quan đến dụng cụ Amplatzer đã xảy ra ở 245 bệnh nhân được nhận thiết bị. Tất cả các biến cố chỉ là thoáng qua và đã hồi phục.

Hiệu quả tốt hơn ở bệnh nhân có tiền triệu

Các tác giả ghi nhận những bệnh nhân mắc chứng đau nửa đầu có tiền triệu, đặc biệt là tiền triệu thường xuyên, đã giảm đáng kể số ngày đau nửa đầu và tăng tỷ lệ khỏi hoàn toàn chứng đau nửa đầu sau khi đóng PFO so với không đóng. Ở những bệnh nhân không có tiền triệu, việc đóng PFO không làm giảm đáng kể số ngày đau nửa đầu hoặc cải thiện hoàn toàn chứng đau nửa đầu. Tuy nhiên, một số bệnh nhân không có tiền triệu cũng đáp ứng với việc đóng PFO và có ý nghĩa thống kê trong việc giảm các cơn đau nửa đầu (–2,0 so với –1,0; p = 0,03). Các nhà nghiên cứu gợi ý rằng: “Sự tương tác giữa bộ não nhạy cảm với chứng đau nửa đầu và nhiều yếu tố khởi phát tiềm ẩn rất phức tạp. PFO có thể là con đường tiềm ẩn cho nhiều yếu tố khởi phát hóa học, chẳng hạn như serotonin từ tiểu cầu, và mặc dù ít thường xuyên hơn nhưng một số người bị chứng đau nửa đầu không có tiền triệu có thể kích hoạt chứng đau nửa đầu của họ thông qua cơ chế này”. Giả thuyết này sẽ được nghiên cứu trong thử nghiệm RELIEF hiện đang được lên kế hoạch.

Trong bài xã luận kèm theo, Ahmed và đồng tác giả, Tiến sĩ Robert J. Sommer Trung tâm Y tế Đại học Columbia, Thành phố New York, chỉ ra rằng phân tích tổng hợp lần đầu tiên chứng minh lợi ích của việc đóng PFO trong nhóm dân số đau nửa đầu. Hơn nữa, các nhà nhiên cứu đã xác định một nhóm bệnh nhân có thể được hưởng lợi nhiều nhất từ việc đóng PFO, những người bị chứng đau nửa đầu với tiền triệu thường xuyên, cho thấy rằng những bệnh nhân này có thể có khác biệt về mặt sinh lý so với các bệnh nhân mắc chứng đau nửa đầu khác. Phân tích cũng đặt kết quả của hai nghiên cứu PRIMA và PREMIUM trong bối cảnh các tiêu chí lâm sàng thực tế hơn và được đánh giá phổ biến hơn trong các thử nghiệm lâm sàng hiện nay. Nhưng các nhà biên tập lưu ý một số hạn chế đáng kể của phân tích bao gồm “việc tổng hợp các nhóm bệnh nhân, phương pháp và các kết quả có thể không hoàn toàn so sánh được”, mà họ cho rằng có thể đã tạo ra sự sai lệch. Họ cũng chỉ ra rằng cơ chế sinh lý bệnh cơ bản liên kết các triệu chứng đau nửa đầu với PFO vẫn chưa được biết rõ. Có thể là liên quan đến sự di chuyển từ phải sang trái của một số thành phần trong máu tĩnh mạch hệ thống ở nồng độ cao hơn bình thường thông qua PFO, mà thông thường sẽ bị loại bỏ hoặc giảm đi khi qua hệ mạch phổi – đến tuần hoàn não và hoạt động như một yếu tố kích thích cơn đau nửa đầu ở những bệnh nhân có não bộ nhạy cảm. Nhưng không phải tất cả bệnh nhân bị chứng đau nửa đầu có PFO đều được hưởng lợi từ việc đóng PFO và do đó có thể chứng đau nửa đầu không liên quan đến PFO. Hiện tại không có cách nào để phân biệt giữa hai nhóm này. Một khi xác định được nhóm bệnh nhân đau nửa đầu mà PFO thực sự là nguyên nhân gây ra các triệu chứng đau đầu, việc tầm soát và điều trị PFO cho chứng đau nửa đầu có thể trở thành hiện thực.

Mặc dù phân tích tổng hợp là một bước đi đúng hướng, nhưng đây không phải là thành công rực rỡ. Đây là một phân tích Post-hoc về hai nghiên cứu, cả hai đều không cho thấy lợi ích đáng kể trên các tiêu chí lâm sàng chính của chúng. Điều đó làm suy yếu phần nào kết quả. Hiện tại, việc đóng PFO không được khuyến khích thường xuyên như một chiến lược điều trị chứng đau nửa đầu vì không chắc bệnh nhân nào có khả năng được hưởng lợi nhiều nhất. Và trong khi phân tích tổng hợp này cho thấy những bệnh nhân có tiền triệu có thể được hưởng lợi nhiều hơn, 1/4 số bệnh nhân không có tiền triệu trong thử nghiệm PREMIUM đáp ứng với việc đóng PFO, vì vậy nó không chỉ là do tiền triệu. Vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được giải đáp. Do đó, thông tin mới từ phân tích tổng hợp này chưa đủ để thuyết phục thay đổi phương pháp thực hành lâm sàng, nhưng nó là một viên gạch nhỏ trong bức tranh tổng thể và cho thấy đây có thể là một chiến lược phù hợp cho một số bệnh nhân trong tương lai.

 

(Dịch từ PFO Closure Reduces Migraine: New Meta-Analysis – Medscape)

 

NGHIÊN CỨU LỚN CHO THẤY MÔ MỠ NÂU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN TỶ LỆ BỆNH TIM MẠCH CHUYỂN HÓA THẤP HƠN

Theo một nghiên cứu mới trên hơn 52.000 người đã được chụp PET/CT như một phần của đánh giá ung thư: Những người có mô mỡ nâu được phát hiện trên hình ảnh học dường như giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch và chuyển hóa, từ bệnh đái tháo đường type 2 đến tăng huyết áp và bệnh động mạch vành, với tác động mạnh đáng kể ở những người bị béo phì.

Mặc dù đã được nghiên cứu trong nhiều thập kỷ ở trẻ sơ sinh và động vật, nhưng chỉ trong thập kỷ qua, các nhà khoa học mới phát hiện rằng một số người trưởng thành có mỡ nâu, điển hình là quanh cổ và vai.

Trong bài báo được xuất bản trực tuyến ngày 4 tháng 1 trên tạp chí Nature Medicine, Tiến sĩ Tobias Becher và các cộng sự từ Đại học Rockefeller, thành phố New York, cho biết đến hiện nay nghiên cứu này là lớn nhất ở người, dường như xác nhận lợi ích sức khỏe của mô mỡ nâu được đề xuất bởi các nghiên cứu trước đó. Họ cho biết: “Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra sự đóng góp quan trọng của mô mỡ nâu đối với sức khỏe tim mạch chuyển hóa và cho thấy tiềm năng trong điều trị cho người”. Nhưng Tiến sĩ Caroline M. Apovian, Trung tâm Quản lý Cân nặng và Sức khỏe, Bệnh viện Brigham và Phụ nữ, Boston, Massachusetts, thận trọng hơn trong việc giải thích những phát hiện của mình. Cô cho rằng “Thật vui khi thấy những điều này là đúng, và thật tuyệt khi thấy rằng ở người bệnh béo phì với nhiều mô mỡ nâu hơn thì sẽ giảm nguy cơ bệnh đái tháo đường và tăng huyết áp, nhưng đó chỉ là một mối liên quan”. “Đây là một nghiên cứu tốt, nhưng tôi không nghĩ rằng chúng ta đã hiểu chính xác lý do tại sao một số người có nhiều mỡ nâu hơn những người khác, làm thế nào mỡ trắng trở thành mỡ nâu, vai trò của liệu pháp trị liệu hoặc có nên cố gắng tạo ra nhiều mỡ nâu hơn không”. Vẫn chưa rõ, liệu mô mỡ nâu đó là do tập thể dục hay do sống trong một môi trường lạnh hơn, vì vậy cần tìm hiểu xem mỡ nâu có phải là do di truyền hay không, và nếu có, thì có cách nào làm tăng mỡ nâu ở người hay không. Và thực tế là nghiên cứu bao gồm những bệnh nhân đã hoặc đang được sàng lọc ung thư là một trong những hạn chế quan trọng nhất của nghiên cứu, Apovian lưu ý.

Mô mỡ nâu được phát hiện trong 10% số người tham gia

Trái ngược với mỡ trắng, giúp dự trữ năng lượng, mỡ nâu có tính sinh nhiệt, được kích hoạt bởi điều kiện lạnh và ngược lại là đốt cháy năng lượng. Và mặc dù các nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra mối liên hệ giữa mỡ nâu và sự cải thiện cân bằng nội môi của đường và mỡ, tác động của mỡ nâu ở người vẫn chưa được hiểu rõ. Becher và các đồng nghiệp giải thích rằng các nghiên cứu quy mô lớn về mỡ nâu thực tế là không thể vì mô chỉ hiển thị trên phim chụp và sẽ là phi đạo đức nếu để mọi người tiếp xúc với bức xạ chỉ để nghiên cứu mỡ nâu. Nhưng họ nhận ra rằng, ở con đường đối diện với phòng thí nghiệm của họ, hàng ngàn người đến Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering mỗi năm để chụp PET/CT nhằm đánh giá ung thư. Bởi vì các bác sĩ phóng xạ thường lưu ý khi phát hiện có sự hiện diện của mô mỡ nâu để tránh hiểu nhầm nó là một khối u, nên dữ liệu luôn có sẵn thông tin. “Chúng tôi nhận ra rằng đây có thể là một nguồn tài nguyên quý giá để giúp chúng tôi bắt đầu nghiên cứu mỡ nâu ở quy mô dân số”, Becher nói trong một tuyên bố báo chí từ Đại học Rockefeller.

Vì vậy, họ đã xem xét 134.529 phim chụp PET/CT từ 52.487 người tại Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 3 năm 2018 với các chỉ định từ chẩn đoán ung thư đến điều trị hoặc giám sát. Những người tham gia được phân loại theo sự hiện diện hoặc không hiện diện mô mỡ nâu và các nhà nghiên cứu có thể sử dụng hồ sơ sức khỏe điện tử để kiểm tra toàn diện mối liên quan giữa mỡ nâu và tỷ lệ bệnh tật. Nhìn chung, mô mỡ nâu được xác định ở 5.070 (9,7%) bệnh nhân, với tỷ lệ mỡ nâu ở nữ cao hơn nam (13,8% so với 4,9%; p < 0,0001) và tỷ lệ giảm khi tuổi cao (p < 0,0001), như đã được ghi nhận trong các nghiên cứu trước đây. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng tỷ lệ khoảng 10% số người có mỡ nâu có thể là một đánh giá thấp bởi vì các bệnh nhân đã được hướng dẫn tránh tiếp xúc với lạnh, tập thể dục và caffeine trước khi chụp – tất cả đều được cho là làm tăng mô mỡ nâu.

Mô mỡ nâu có làm giảm một số tác hại của bệnh béo phì không?

Trong số những người có mỡ nâu, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường type 2 là 4,6% so với 9,5% ở những người không có mỡ nâu (p < 0,0001), và trong một phân tích đa biến, tỷ số chênh (OR) đối với bệnh đái tháo đường type 2 khi có sự hiện diện của mỡ nâu là 0,44. Sự xuất hiện của bệnh động mạch vành thấp hơn đáng kể ở những người có mỡ nâu (OR = 0,68; p = 0,0002), cũng như bệnh mạch máu não (OR = 0,77; p = 0,0317), suy tim sung huyết (OR = 0,62; p = 0,0043), và tăng huyết áp (OR = 0,85; p = 0,0014). Mỡ nâu cũng có liên quan đến những cải thiện đáng chú ý về mức glucose, triglyceride và HDL-C (tất cả p < 0,0001), trong khi không có sự khác biệt nào về mức LDL-C hoặc cholesterol toàn phần. Số lượng bạch cầu và tiểu cầu giảm đáng kể ở những người có mỡ nâu (cả hai p < 0,0001). Các tác giả viết: “Các phát hiện này cho thấy vai trò tiềm năng của mỡ nâu ngoài điều tiết chuyển hóa lipid và glucose”. Đáng chú ý nhất là những tác động này rõ rệt hơn ở những người bị béo phì. Ví dụ, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường type 2 ở những người béo phì và có mỡ nâu thấp hơn một nửa tỷ lệ ở những người béo phì không có mỡ nâu (7,5% so với 20,3%; p < 0,0001). Điều này có thể chỉ ra rằng mô mỡ nâu “có thể đóng một vai trò trong việc giảm thiểu tác hại của bệnh béo phì”. Tóm lại, nghiên cứu trong tương lai nên nhằm nâng cao hiểu biết của chúng ta về cơ chế điều hòa mô mỡ nâu ở người và phát triển các cơ chế điều chỉnh hoạt động của mỡ nâu một cách an toàn.

(Dịch từ Large Study Links Brown Fat With Lower Rates of Cardiometabolic Disease – Medscape)