TS. PHẠM HỮU VĂN
(…)
Bảng 1.8.3. Ngất ở bệnh nhân bệnh tim cấu trúc không do thiếu máu cục bộ
| Chỉ định | Điểm sử dụng phù hợp (1-9) | |||
| Ngất không rõ nguyên nhân ở bệnh nhân bị phì đại thất trái
Không có tiêu chuẩn của bệnh cơ tim phì đại |
||||
| LVEF | ≥50% | 36%-49% | ≤35% | |
| 58 | ■ Phì đại thất trái/ bệnh tim do tăng huyết áp | R (2) | M (4) | A (7) |
| Ngất không rõ nguyên nhân ở bệnh nhân bệnh cơ tim không do thiếu máu cục bộ | ||||
| LVEF | ≥50% | 36%-49% | ≤35% | |
| 59 | ■ Bệnh cơ tim giãn không do thiếu máu cục bộ | M (4) | M (6) | A (8) |
| 60 | ■ Không đông đặc thất trái M (6) A (7) A (8) | M (6) | A (7) | A (8) |
| 61 | ■ Bệnh amyloidosis tim, với tình trạng
chức năng tốt (NYHA chức năng lớp I-II) |
M (4) | M (5) | M (6) |
| 62 | ■ Bệnh cơ tim phì đại | A (7) | ||
| 63 | ■ Tứ chứng Fallot với phẫu thuật chỉnh sửa trước | A (7) | ||
| Ngất không rõ nguyên nhân ở bệnh nhân bệnh cơ tim thất phải loạn nhịp | ||||
| 64 | ■ Không thực hiện EPS | A (7) | ||
| 65 | ■ Không gây VT/VF trong EPS | A (7) | ||
| 66 | ■ Gây VT/VF trong EPS
■ Tất cả VT có thể gây đều được triệt phá thành công |
A (7) | ||
| 67 | ■ Gây VT/VF tại EPS
■ Triệt phá không thành công |
A (8) | ||
* LVEF được bảo tồn bằng liệu pháp y tế.
A = Thích hợp; EPS = nghiên cứu điện sinh lý; LVEF = phân suất tống máu thất trái; M = Có thể thích hợp; NYHA = Hiệp hội Tim mạch New York; R = Hiếm khi thích hợp; VF = rung thất; VT = nhịp nhanh thất.
Bảng 1.9. VT đơn hình ổn định huyết động học liên tục liên quan đến bệnh tim cấu trúc
| Chỉ định | Điểm sử dụng phù hợp (1-9) | |||
| Ngất không rõ nguyên nhân ở bệnh nhân bị phì đại thất trái
Không có tiêu chuẩn của bệnh cơ tim phì đại |
||||
| LVEF | ≥50% | 36%-49% | ≤35% | |
| 68 | ■ CAD và MI trước đó | A (7) | A (7) | A (9) |
| 69 | ■ CAD và MI trước đó
■ Tất cả các VT có thể gây ra đều được triệt phá thành công |
M (6) | M (6) | A (9) |
| 70 | ■ CAD và MI trước đó
n Tăng troponin được cho là thứ phát sau VT ■ Tất cả các VT có thể gây ra đều được triệt phá thành công |
M (6) | A (7) | A (9) |
| 71 | ■ Bệnh cơ tim giãn không do thiếu máu cục bộ | A (7) | A (7) | A (9) |
| 72 | ■ Bệnh cơ tim giãn không do thiếu máu cục bộ
■ Tất cả các VT có thể gây ra đều được triệt phá thành công |
M (6) | A (7) | A (8) |
| 73. n Tái nhập nhánh bó thành công
ở bệnh nhân bị bệnh cơ tim không do thiếu máu cục bộ |
R (3) | M (5) | A (7) | |
* LVEF được bảo tồn bằng điều trị y khoa.
A = Thích hợp; CAD = bệnh động mạch vành; LVEF = phân suất tống máu thất trái; M = Có thể thích hợp; MI = nhồi máu cơ tim; R = Hiếm khi thích hợp; VF =
rung thất; VT = nhịp nhanh thất.

VF VT đa hình dai dẳng
Các tình huống mà bệnh nhân biểu hiện VF hoặc nhịp nhanh thất đa hình dai dẳng (PMVT) trong bối cảnh CAD (bệnh động mạch vành), được sửa đổi theo thời gian sau MI và thời gian sau tái thông mạch, hoặc xảy ra trong bối cảnh test gắng sức được mô tả trong Bảng 1.1 đến 1.4 (Hình 1 và 2). MMVT dai dẳng bị loại trừ khỏi các tình huống sau MI sớm này vì nhịp nhanh đồng dạng hơn thường biểu thị một nền tảng ổn định thường liên quan đến vòng vào lại và nguy cơ tái phát loạn nhịp tim có thể cao hơn so với bệnh nhân PMVT/VF. Cấy ICD được coi là Hiếm khi Phù hợp đối với hầu hết các tình huống này, trong đó VF hoặc PMVT xảy ra trong bối cảnh MI cấp tính (<48 giờ), đặc biệt là trong bối cảnh chức năng tâm thu LV được bảo tồn hoặc chỉ giảm nhẹ đến trung bình (Bảng 1.1, Hình 1). Điều này phù hợp với bằng chứng lâm sàng và các hướng dẫn nêu rõ không nên khuyến cáo cấy ICD đối với các chứng loạn nhịp được coi là “hoàn toàn có thể hồi phục”; Tuy nhiên, các chỉ định được đánh giá là Có thể phù hợp nếu LVEF ≤ 35%. Các chỉ định này có thể bao gồm những bệnh nhân bị rối loạn chức năng LV có thể đã tồn tại từ trước, vì các tình huống không đề cập đến bất kỳ đánh giá nào trước đó về LVEF hoặc có thể có ít cơ hội phục hồi chức năng LV nếu không tái thông trong một số tình huống. Cấy ICD được đánh giá là Phù hợp cho VF hoặc PMVT trong trường hợp CAD tắc nghẽn với giải phẫu động mạch vành không thể tái thông nếu LVEF ≤ 35%. Sự hiện diện của bệnh động mạch vành tắc nghẽn không thể tái thông có thể khiến bệnh nhân tiếp tục có nguy cơ bị loạn nhịp tim tái phát và do đó, có thể không đủ điều kiện là nguyên nhân “hoàn toàn có thể hồi phục”.

Nhịp nhanh thất dai dẳng / rung thất xảy ra trong bối cảnh bệnh tim không do thiếu máu cục bộ, gồm các bệnh di truyền, bệnh cơ tim thâm nhiễm hoặc viêm cơ tim, cũng như không phát hiện được bệnh tim cấu trúc được mô tả trong Bảng 1.5 đến 1.7 (Hình 3 và 4). Một số trường hợp này không được đề cập cụ thể trong các hướng dẫn hoặc thử nghiệm lâm sàng và có thể chỉ chiếm một tỷ lệ tương đối nhỏ trong số bệnh nhân được cấy ICD. Do đó, thường cần phải có đánh giá lâm sàng dựa trên việc xem xét các bằng chứng hạn chế khi đưa ra quyết định.
Ngất
Các tình huống liên quan đến ngất gồm những tình huống có và không có bệnh tim cấu trúc tiềm ẩn hoặc CAD đi kèm (Bảng 1.8.1 đến 1.8.3, Hình 5). Ở những bệnh nhân không có bệnh tim cấu trúc, cấy ghép ICD được đánh giá là Phù hợp khi xảy ra trong bối cảnh hội chứng QT dài trong khi điều trị bằng thuốc chẹn beta, ECG mẫu Brugada bất kể phát hiện nào khi thử nghiệm điện sinh lý xâm lấn và PMVT thúc dẩy do catecholamine trong khi điều trị bằng thuốc chẹn beta (Bảng 1.8.1, Hình 5). Ngược lại, cấy ICD được đánh giá là Hiếm khi Phù hợp ở những bệnh nhân bị ngất không rõ nguyên nhân, có tim bình thường và ECG bình thường và không mắc bệnh di truyền liên quan đến đột tử hoặc khi ngất xảy ra ở những bệnh nhân có chức năng thất trái bình thường và VT nguyên phát (gồm VT đường ra RV hoặc LV nguyên phát) bất kể có thực hiện triệt phá hay không. Điều sau phù hợp với tiên lượng tốt ở những bệnh nhân VT nguyên phát. Ở những bệnh nhân ngất do bệnh mạch vành (CAD), các kịch bản được điều chỉnh theo LVEF (Bảng 1.8.2, Hình 6). Ở những bệnh nhân ngất không rõ nguyên nhân, tiền sử nhồi máu cơ tim và LVEF ≤ 35%, cấy ICD được coi là Phù hợp bất kể kết quả nghiên cứu EP. Trong trường hợp LVEF giảm nhẹ (36%-49%) và tiền sử nhồi máu cơ tim, cấy ghép ICD chỉ được coi là Phù hợp nếu nghiên cứu EP cho thấy VT dai dẳng hoặc VF có thể gây ra, nhưng được đánh giá là Có thể Phù hợp nếu nghiên cứu EP không xác định được nguyên nhân, bất kể tình trạng tái thông mạch máu.

Ở những bệnh nhân mắc bệnh tim cấu trúc không do thiếu máu cục bộ và ngất, các kịch bản được điều chỉnh theo loại bệnh tim, LVEF và/hoặc tình trạng nghiên cứu điện sinh lý (Bảng 1.8.3, Hình 7). Ví dụ, ở những bệnh nhân mắc bệnh cơ tim phì đại thất phải gây loạn nhịp, cấy ICD được coi là Phù hợp bất kể tình trạng nghiên cứu điện sinh lý hay triệt phá. Ở những bệnh nhân mắc bệnh cơ tim giãn không do thiếu máu cục bộ và ngất, cấy ghép ICD được coi là Phù hợp nếu LVEF ≤ 35% và Có thể Phù hợp nếu EF >35%.

MMVT dai dẳng dung nạp huyết động học
MMVT dai dẳng dung nạp huyết động học trong bối cảnh bệnh tim cấu trúc được xem xét riêng biệt với VT không ổn định huyết động học hoặc VF không ổn định, do sự khác biệt tiềm ẩn về nền tảng loạn nhịp cũng như đáp ứng của VT với việc triệt phá qua catheter. Khi xảy ra trong bối cảnh LVEF #35%, bất kể bệnh lý nền (tức là bệnh tim thiếu máu cục bộ hay không thiếu máu cục bộ) hoặc tiền sử triệt phá VT, việc cấy ICD được coi là phù hợp (Bảng 1.9, Hình 8).



(Còn nữa)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- A comparison of antiarrhythmic-drug therapy with implantable defibrillators in patients resuscitated from near-fatal ventricular arrhythmias. N Engl J Med. 1997;337:1576–1583.
- Connolly SJ, Gent M, Roberts RS, et al. Canadian implantable defibrillator study (CIDS) : a randomized trial of the implantable cardioverter defibrillator against amiodarone. Circulation. 2000;101:1297–1302.
- Kuck K-H, Cappato R, Siebels J, et al. Randomized comparison of antiarrhythmic drug therapy with implantable defibrillators in patients resuscitated from cardiac arrest. Circulation. 2000;102:748–754.
- Connolly SJ, Hallstrom AP, Cappato R, et al. Metaanalysis of the implantable cardioverter defibrillator secondary prevention trials. AVID, CASH and CIDS studies. Antiarrhythmics vs Implantable Defibrillator study. Cardiac Arrest Study Hamburg . Canadian Implantable Defibrillator Study. Eur Heart J. 2000;21: 2071–2078.
- Chan PS, Hayward RA. Mortality reduction by implantable cardioverter-defibrillators in high-risk patients with heart failure, ischemic heart disease, and new-onset ventricular arrhythmia: an effectiveness study. J Am Coll Cardiol. 2005;45:1474–1481.
- Katz DF, Peterson P, Borne RT, et al. Survival after secondary prevention implantable cardioverterdefibrillator placement: an analysis from the NCDR ICD registry. JACC Clin Electrophysiol. 2017;3:20–28.
- Schaer B, Kühne M, Reichlin T, et al. Incidence of and predictors for appropriate implantable cardioverter-defibrillator therapy in patients with a secondary preventive implantable cardioverterdefibrillator indication. Europace. 2016;18:227–231.
- Priori SG, Blomström-Lundqvist C, Mazzanti A, et al. 2015 ESC guidelines for the management of patients with ventricular arrhythmias and the prevention of sudden cardiac death: the Task Force for the Management of Patients with Ventricular Arrhythmias and the Prevention of Sudden Cardiac Death of the European Society of Cardiology (ESC). Endorsed by: Association for European Paediatric and Congenital Cardiology (AEPC). Eur Heart J. 2015;36:2793–2867.
- Wyse DG, Friedman PL, Brodsky MA, et al. Lifethreatening ventricular arrhythmias due to transient or correctable causes: high risk for death in follow-up. J Am Coll Cardiol. 2001;38:1718–1724







