Phối hợp Telmisartan và amlodipine trong một viên để điều trị các bệnh nhân tăng huyết áp có bệnh sử nguy cơ chuyển hóa (các bệnh nhân có thêm nguy cơ) – Phần I

0
321

Tóm tắt
Mục đích:

Bệnh nhân tăng huyết áp có các yếu tố nguy cơ chuyển hóa, gồm béo phì, tiểu đường và hội chứng chuyển hóa, thường đòi hỏi phối hợp các thuốc chống tăng huyết áp để đạt được huyết áp mục tiêu.

 

Ludwin Ley

Helmut Schumacher

Current Medical Research & Opinion

Người biên dịch: TS Phạn Hữu Văn

 

Bài viết này xem xét các bằng chứng hỗ trợ điều trị phối hợp telmisartan / amlodipine để điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ chuyển hóa.

Phương pháp:

Nghiên cứu lâm sàng telmisartan / amlodipine liều 40-80 mg mg/5-10 mg (T40-80/A5-10) phối hợp riêng lẻ, phối hợp liều cố định và phối hợp trong cùng 1 viên được xác định qua kiểm soát điện tử. Tất cả dữ liệu của các thử nghiệm xác định đã được xem xét trên bệnh nhân tăng huyết áp ở người béo phì, tiểu đường, hoặc cả hai. Phân tích phân nhóm hậu kiểm được thực hiện bằng cách sử dụng cơ sở dữ liệu Boehringer Ingelheim (BI) để xác định các thông tin có liên quan nếu không được báo cáo trước đây.

Kết quả:

Mười ba nghiên cứu lâm sàng gồm 6886 bệnh nhân đã được xác định có các dự liệu liên quan để đưa vào tổng quan này. Phối hợp Telmisartan / amlodipine cho phép một tỷ lệ cao các bệnh nhân tăng huyết áp có các trạng thái chuyển hóa để đạt được huyết áp mục tiêu, đặc biệt là ở những bệnh nhân trước đó đã thất bại trong việc đạt được mục tiêu huyết áp (HA) bằng đơn trị liệu. Giảm huyết áp và đạt được mục tiêu tỷ lệ tương tự là cao ở những bệnh nhân có và không có sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ chuyển hóa. Giảm huyết áp được duy trì trong suốt 24 giờ thời gian dùng thuốc và đạt được tỉ lệ cao. Giảm huyết áp đặc biệt cao với telmisartan / amlodipine được ghi nhận ở các bệnh nhân tăng huyết áp nặng (huyết áp tâm thu 180 mmHg).

Kết luận:

Kết quả phân tích hậu kiểm này tiếp tục ủng hộ khả năng phối hợp telmisartan / amlodipine để giảm huyết áp một cách hiệu quả cho các bệnh nhân tăng huyết áp ở người béo phì, tiểu đường, hoặc hội chứng chuyển hóa, tạo điều kiện cho đa số bệnh nhân đạt được huyết áp mục tiêu. Phối hợp này cũng được dung nạp tốt, và có thể được coi là một lựa chọn phù hợp cho những bệnh nhân tăng huyết áp gia tăng nguy cơ.

Mở đầu

Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính gây bệnh tim mạch (CV) và bệnh mạch máu não, nguyên nhân hàng đầu của bệnh suất và tử suất trên toàn thế giới [1,2]. Tăng huyết áp thường liên quan với béo phì và tiểu đường [3], cả hai béo phì và tiểu đường ngày càng phổ biến [4, 5], các vần đề này làm cho điều trị bệnh tăng huyết áp thường phức tạp. Ví dụ , trong số bệnh nhân béo phì (chỉ số khối cơ thể [BMI] 30 kg/m2) điều chỉnh tăng huyết áp trong bệnh viện ở Tây Ban Nha, mục tiêu huyết áp [5] 140/90 mmHg) đạt được chỉ ở 34% bệnh nhân béo phì có tăng huyết áp so với 46% bệnh nhân không béo phì  [6].

Béo phì là một phần quan trọng của bậc thang diễn biến tim mạch, dẫn đến từ sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ đối với sự phát triển của bệnh mạch máu và cuối cùng là tổn thương cơ quan đích [7]. Thông qua tác động lên trung gian gây viêm và hệ thống thần kinh giao cảm, béo phì có thể làm tăng đề kháng insulin, thay đổi cán cân từ giãn mạch đến co mạch và tăng giữ nước trong lòng mạch, do đó gây tăng huyết áp [8]. Nhiều bệnh nhân tăng huyết áp đồng thời có bệnh tiểu đường và béo phì – một nhóm tập hợp các yếu tố nguy cơ chỉ ra sự hiện diện của hội chứng chuyển hóa (MS) [9]. Điều này cho phép dẫn đến nguy cơ gia tăng cho các biến cố tim mạch lớn hơn so với tổng các cấu thành riêng biệt [10].

Định nghĩa hội chứng chuyển hóa (MS) thay đổi tùy theo từng tổ chức định nghĩa nó. Ví dụ, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa MS như sự hiện diện của bệnh tiểu đường, giảm dung nạp glucose, rối loạn đường huyết lúc đói hoặc kháng insulin, cộng với hai vấn đề sau đây: huyết áp 140/90 mmHg; rối loạn mỡ máu (triglyceride [TG] 1.695 mmol / L và lipoprotein cholesterol trọng lượng cao [HDL-C] 0,9 mmol / L [nam], 1,0 mmol / L [nữ]); béo phì trung tâm: tỷ lệ vòng eo hông 40,90 (nam), 40,85 (nữ), hoặc chỉ số BMI [4] 30 kg/m2; microalbumin niệu (tỷ lệ bài tiết albumin niệu 20 mg / phút hoặc tỷ lệ albumin / creatinin 30 mg / g) [11]. Định nghĩa của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế có sự khác biệt chút ít [12]. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây của các định nghĩa khác nhau làm nổi bật những điểm tương đồng, trong đó có tiêu chuẩn tăng huyết áp, béo phì trung tâm và bệnh tiểu đường hoặc tiền tiểu đường [13].

Do bệnh nhân tăng huyết áp bị tiểu đường có nguy cơ tim mạch tăng lên, đòi hỏi huyết áp mục tiêu nghiêm ngặt hơn [10, 14], tuy nhiên, bằng chứng gần đây cho thấy mục tiêu huyết áp ở bệnh nhân này thấp hơn ở những bệnh nhân tiểu đường là mâu thuẫn nhau. Nghiên cứu Hành động hướng đến Mục tiêu Nguy cơ Tim mạch trong Bệnh tiểu đường (ACCORD) [15] và phân tích bổ sung nghiên cứu quốc tế Verapamil SR- Trandalopril (INVEST) [16] đề nghị tiếp cận huyết áp sẽ là BP 130/80 mmHg, mặc dù có thể không có thêm lợi ích khi giảm hơn nữa – ít nhất ở những bệnh nhân đái tháo đường có tổn thương cơ quan đích. Tái thẩm định hướng dẫn của Hội Tăng huyết áp châu Âu (ESH) / Hội Tim mạch châu Âu (ESC) ngày nay đề nghị huyết áp tâm thu nên được giảm càng nhiều càng tốt dưới 140 mmHg, chứ không phải là mục tiêu [5] 130/80 mmHg như đề nghị trước đó [17].

Đa số bệnh nhân tăng huyết áp cần điều trị kết hợp để đạt được mục tiêu huyết áp hiện thời [18]. Hướng dẫn khuyến cáo sử dụng sớm trị liệu phối hợp ở tất cả các bệnh nhân có huyết áp tâm thu / tâm trương cao hơn 20/10 mmHg so với huyết áp mục tiêu của họ, và ở các bệnh nhân tăng huyết áp nhẹ hơn có nhiều tố nguy cơ tim mạch, gồm cả bệnh tiểu đường hoặc bệnh thận [10].

Sử dụng sớm điều trị phối hợp ở những bệnh nhân tăng nguy cơ có thể giúp họ đạt được đích huyết áp một cách nhanh chóng hơn, như tốc độ đạt được mục tiêu huyết áp cũng rất quan trọng để giảm nguy cơ tim mạch [19-21].

 

Khuyến cáo châu Âu cập nhật đề nghị điều trị kết hợp sử dụng các thuốc với cơ chế hoạt động bổ sung, chẳng hạn như thuốc lợi tiểu cộng với thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE), chẹn thụ thể angiotensin II (ARB) hoặc thuốc chẹn kênh calci (CCB), hoặc chặn hệ thống renin – angiotensin (RAS) (ACE / ARB) cộng với sự kết hợp CCB [17]. Ức chế RAS (ACE inhibitor / ARB) cộng với CCB có thể được ưa chuộng hơn ức chế RAS cộng với thuốc lợi tiểu ở bệnh nhân nguy cơ chuyển hóa, chẳng hạn như (tiền) bệnh tiểu đường, béo phì hoặc hội chứng chuyển hóa, và bệnh nhân bệnh thận mãn tính (CKD) [22].

Telmisartan và amlodipine như những đơn trị liệu là những thuốc chống tăng huyết áp được sử dụng rộng rãi làm giảm huyết áp có hiệu quả và dung nạp tốt và tần số đạt huyết áp mục tiêu 24 giờ, với giảm huyết áp hơn nữa và tần số đạt huyết áp mục tiêu cao hơn 24h được quan sát thấy khi sử dụng kết hợp [23]. Sự kết hợp của telmisartan và amlodipine đã được chứng minh giúp giảm đáng kể và nhanh chóng so với đơn trị liệu, ở những bệnh nhân tăng huyết áp độ 1 hoặc độ 2 (p[5] 0.05) [24], và ở những bệnh nhân tăng huyết áp vừa đến nặng (p [5] 0.05) [25]. Mục đích đánh giá này là đánh giá các bằng chứng về việc sử dụng sự phối hợp telmisartan và amlodipine để điều trị bệnh nhân tăng huyết áp gia tăng nguy cơ có bệnh sử nguy cơ chuyển hóa, chẳng hạn như bệnh nhân bị béo phì, tiểu đường typ 2 , hoặc hội chứng chuyển hóa.

Phương pháp

Béo phì thường được định nghĩa trong các nghiên cứu này khi chỉ số BMI 30 kg/m2, phù hợp với định nghĩa của WHO [26]. Có bằng chứng cho thấy người châu Á có các sự liên kết khác biệt giữa chỉ số BMI, tỷ lệ mỡ cơ thể, và nguy cơ sức khỏe hơn so với dân số châu Âu. Tỷ lệ người dân châu Á có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường và bệnh tim mạch đáng kể ở chỉ số BMI thấp hơn so với giời hạn cho quá cân của WHO đang hiện hành (25 kg/m2) [27]. Đối với các nghiên cứu tiến hành ở các quần thể của Nhật Bản, định nghĩa của bệnh béo phì do Hiệp hội Nhật Bản nghiên cứu về béo phì (JASSO) (BMI 25 kg/m2) [28] được coi là thích hợp cho người dân Nhật Bản và đã được sử dụng.

Sự hiện diện hay vắng mặt của bệnh tiểu đường đã được ghi lại trong nhân khẩu học cơ bản trong các nghiên cứu lâm sàng. Bệnh nhân tăng huyết áp có thêm các yếu tố chuyển hóa như bệnh tiểu đường và béo phì được xác định là bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa, trong trường hợp không có các số đo cụ thể khác, chẳng hạn như vòng eo.

Trong những nghiên cứu do BoehringerIngelheim tài trợ là các phân tích phân nhóm quan trọng trước đây chưa từng được thực hiện, dữ liệu được các tác giả tái phân tích để có thể đưa quần thể đầy đủ (bảng  2-5).

Bảng 1.Chi tiết các nghiên cứu điều trị phối hợp telmisartancộngamlodipine được nhận biết và đánh giá các số liệu trên bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ chuyển hóa.

Kết quả

Tổng số 15 nghiên cứu được xác định, 14 trong số đó đã được nghiên cứu hoặc FDC hoặc SPC và một nghiên cứu tang liều đến khi đáp ứng (Bảng 1). Trong số này, 13 nghiên cứu liên quan để đưa vào tổng quan này (Bảng 1). Tổng số 6886 bệnh nhân được đưa vào 13 nghiên cứu. Trong số này, 1.184 bệnh nhân đã được xác định thuộc nhóm béo phì, 649 đã được xác định thuộc nhóm bệnh tiểu đường, và 389 thuộc nhóm hội chứng chuyển hóa. Từ các nghiên cứu nhản mở, 613 bệnh nhân được ghi nhận là có béo phì, tiểu đường, hoặc cả hai.

Bệnh nhân tăng huyết áp có béo phì

Tổng quan các kết quả từ các nghiên cứu hoặc phân tích phân nhóm ở những bệnh nhân béo phì được thể hiện trong bảng 2.

Bảng 2.Hiệu quả phối hợp telmisartan và amlodipine ở bệnh nhân béo phì (BMI 30kg/m2)

aThay đổi tử cơ bản trong huyết áp tâm thu hoặc tâm trương trung bình ở tư thế ngoài thấp.

bMục tiêu huyết áp được xác định như [5]140/90 mmHg,Mục tiêu huyết áp tâm thu [5] 140 mmHg,mục tiêu huyết áp tâm trương [5] 90 mmHg.

cĐáp ứng huyết áp tâm trương được xác định khi huyết áp tâm trương tư thế ngoaoif [5] 90mmHghoặc giảm 10 mmHg so với cơ sở;Đáp ứng huyết áp tâm thu được xác định khi huyết áp tâm thu [5] 140mmHghoặc giảm 15mmHg so với cơ sở.

dTất cả bệnh nhân có huyết áp cơ sở 185/95mmHg.

eBệnh nhân có BMI 25kg/m2 được phân loại như béo phì như định nghĩa Nhật Bản.

A,amlodipine;BP,Huyết áp;BMI,Chỉ số khối lượng cơ thể;DBP,huyết áp tâm trương;  SBP,Huyết áp tâm thu;  SPC,Phối hợp viên dơn giản;T,telmisartan; TEAMSTA-5or-10,Nghiên cứu viên đơn giản TElmisartan/AMlodipine đánh giá hiệu quả ở bệnh nhân tăng huyết áp vô căn đã không kiểm soát được bằng A5orA10;TEAMSTA- SevereHTN,Phôi hợp viên đơn giản Telmisartan80mg/Amlodipine10mgđưa đến giảm huyết áp tối ưu hơn ở bệnh nhân tăng huyết áp nặng.

Trong một nghiên cứu thiết kế giai thừa, phạm vi liều lượng bệnh nhân tăng huyết áp [24], telmisartan 40 hoặc 80 mg (T40/T80) cộng với amlodipine 5 hoặc 10 mg (A5/A10) có hiệu quả và dung nạp tốt ở nhóm bệnh nhân béo phì (n = 768) [44]. Ở mức liều cao nhất (T80/A10), giảm huyết áp và đạt được tỷ lệ mục tiêu tương tự ở những bệnh nhân có và không béo phì. Mức giảm huyết áp tâm thu / tâm trương khi ngồi ở liều T80/A10 đạt trung bình 24,6/19,9 mmHg ở bệnh nhân béo phì so với 27,1 / 19,2 mmHg ở bệnh nhân không béo phì, và huyết áp mục tiêu [5] 140/90 mmHg đã đạt được ở tỷ lệ bệnh nhân tương tự, không quan tâm đến trạng thái béo phì với T80 / A10 (76,1% trong béo phì, so với 76,9 % ở những bệnh nhân không béo phì) [44]. Trong khi đó, bệnh nhân béo phì được điều trị đơn trị liệu làm giảm huyết áp tâm thu / huyết áp tâm trương (T80: 13,0 / 13,0 mmHg đối với béo phì và 14,5 / 13,4 mmHg đối với không béo phì; A10: 16,0 / 16,7 mmHg đối với béo phì và 17,1 / 16,0 mmHg đối với không béo phì) và tỉ lệ đạt được huyết áp mục tiêu thấp hơn (T80 : 38% béo phì và 47,2% cho không bị béo phì ; A10 : 61,2% đối với béo phì và 64,9 % cho người không béo phì) [45]. Kết quả nghiên cứu dưới nhóm theo dõi huyết áp 24h (ABMP) đã chứng minh giảm huyết áp được duy trì trong suốt 24 giờ dùng thuốc [23]. Thay đổi huyết áp trung bình 24 giờ so với ban đầu tương tự ở cả hai nhóm bệnh nhân béo phì và không béo phì với T80/A10 liều (22,8 / 14,9 mmHg so với 22,0 / 14,4 mmHg, tương ứng) và huyết áp mục tiêu 24 giờ ([5] 130/80 mmHg) đạt được khoảng 75 % trên bệnh nhân béo phì nhận được liều T40/A10 hoặc T80/A10 [46]. Tỷ lệ các biến cố có hại (AES) tương tự như ở những bệnh nhân béo phì và không béo phì (37,9 % so với 38,2 %) trong khi các biến cố có hại có liên quan đến thuốc ( 10,9 % so với 12,0% ) và ngưng điều trị do liên quan đến thuốc (2,3% so với 2,2%). Trong số các bệnh nhân béo phì, tỷ lệ phù ngoại biên thấp hơn đã được quan sát với T80/A10 so với A10 đơn liệu pháp (7,9% so với 21,4%) [44]. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân béo phì chỉ có 3,9 % ở nhóm T80/A10 so với 10,0 % ở nhóm A10 được coi là có liên quan về mặt lâm sàng (tức là từ trung bình đến nặng) và ngưng do phù ngoại biên là thấp (không ai trong nhóm T80/A10 và 2,9 % trong nhóm A10).

Trong một nghiên cứu bệnh nhân tăng huyết áp nặng (huyết áp 180/95 mmHg) (phối hợp trong một viên Telmisartan 80 mg / Amlodipin 10 mg làm giảm huyết áp tốt hơn ở bệnh nhân có huyết áp nặng [TEAMSTA Severe HTN Study]), giảm huyết áp với phối hợp trong một viên thuốc T80 / A10 (T80 / A10 SPC) ở nhóm người béo phì tương tự như ở các bệnh nhân khó điều trị khác (chẳng hạn như người già, da đen, hoặc tiểu đường) và trong nghiên cứu các quần thể tổng thể [29]. Tiêu chí đầu tiên của giảm huyết áp tâm thu trung bình ở tư thế ngồi ở phòng khám sau điều trị 8 tuần với T80/A10 là 47,5 mmHg trong toàn bộ dân số nghiên cứu (n = 379) và 46,5 mmHg ở nhóm bệnh nhân béo phì (n = 181), đối với dưới nhóm béo phì T80/A10 làm giảm huyết áp nhiều hơn so với cả hai T80 và  đơn điều trị A10 (giảm huyết áp tâm thu 32,2 và 42,5 mmHg, tương ứng) [29]. Huyết áp mục tiêu đạt được ở 42,0 % số bệnh nhân béo phì để nhắm đưa HA tâm thu / HA tâm trương về mục tiêu [5] 140/90 mmHg (Bảng 2). Trong toàn bộ dân số nghiên cứu, tỷ lệ các tác dụng phụ (AES) tương tự đã được thông báo với tất cả ba phương diện điều trị; phù ngoại vi xảy ra số lượng tần số ít hơn trong nhóm điều trị T80/A10 so với nhóm amlodipine đơn độc (13,1 % so với 15,0%) [29]. Phần lớn các trường hợp phù ngoại vi đều nhẹ và số lượng ngưng điều trị với T80/A10 trong một viên đơn giản do tác dụng phụ là thấp hơn với hoặc T80 hoặc A10 đơn trị liệu ( 2,1% so với 2,8 % và 3,2 %, tương ứng).

Trong hai nghiên cứu ở các bệnh nhân trước đó đã thất bại trong việc đạt được huyết áp mục tiêu bằng A5 hoặc A10 đơn trị liệu trong 6 tuần (Nghiên cứu viên thuốc đơn giản telmisartan / amlodipine để đánh giá hiệu quả ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát không kiểm soát được bằng A5 hoặc A10 (TEAMSTA 5 và 10), 26,0% (472/1814) bệnh nhân tăng huyết áp trong nghiên cứu này bị béo phì. Ở những bệnh nhân trước đó không đáp ứng với A5 hoặc A10 đơn trị liệu, điều trị bằng viên phối hợp telmisartan / amlodipine đạt được mức giảm huyết áp tâm thu / tâm trương nhiều hơn đáng kể so với amlodipine đơn trị liệu (T40 / A5 đối lại A5: 7,4 / 3,6 mmHg; T80/A5 so với A5: 8,8 / 4,9 mmHg; T40/A10 so với A10: 11,1 / 9,2 mmHg; T80/A10 so với A10: 11,3 / 9,3 mmHg; so sánh với p = 0.0001) [33,34]. HA mục tiêu ([5] 140/90 mmHg) đã đạt được ở 41,5% bệnh nhân béo phì được điều trị bằng T80/A5 phối hợp trong một viên (SPC) (n = 94) so với 51,3% trong tổng dân số (n = 271), và trong 48,2% bệnh nhân béo phì điều trị bằng T80 / A10 (n = 141) so với 63,7% trong tổng dân số (n = 310) (Bảng 2). Vào cuối các nghiên cứu theo dõi tương ứng, huyết áp mục tiêu đạt được vẫn ở mức cao trong các phân nhóm béo phì (Bảng 3). Điều trị lâu dài với telmisartan / amlodipine trong phối hợp một viên được dung nạp tốt với sự tuân thủ điều trị cao ([4] 98 %) qua 34 tuần, bất kể liều telmisartan / amlodipine liều [35]. Tác dụng phụ (AE) phổ biến nhất là phù ngoại biên đã được thông báo với tần số lớn nhất ở liều T80/A10 và T40/A10 trong tổng dân số (3,9% và 2,8%, tương ứng).

Trong hai nghiên cứu [47] bệnh nhân Nhật bản tăng huyết áp trước đó đã thất bại trong việc đạt được mục tiêu huyết áp tâm trương với một trong hai đơn trị liệu A5 [31] hoặc T40 [32], khoảng một nửa số bệnh nhân tham gia trong mỗi nghiên cứu bị béo phì theo định nghĩa của JASSO (BMI 25 kg/m2) [28]. Kết quả cho thấy viên phổi hợp T40/A5 có hiệu quả hơn A5 và dung nạp tốt trong tất cả các loại chỉ số BMI ở những bệnh nhân trước đó không đáp ứng với A5, có hiệu quả hơn T40 đơn độc và được dung nạp tốt trong tất cả các loại chỉ số BMI ở những bệnh nhân trước đó không đáp ứng với T40 [32]. HA tâm thu / huyết áp tâm trương giảm ở những bệnh nhân béo phì (BMI 25 kg/m2) được sử dụng T40/A5 lớn hơn so với sử dụng đơn trị liệu A5 (27,6 / 16,0 mmHg so với 20.6/10.9 mmHg, tương ứng), và cũng lớn hơn ở T40 / A5 so với đơn trị liệu T40 (28,1 / 18,1 mmHg so với 16.6/10.5 mmHg, tương ứng). Huyết áp mục tiêu [5]140/90 mmHg đạt được ở 62,4 % và 73,0 % số bệnh nhân béo phì trước đó không đáp ứng với A10 và T40 đơn độc, tương ứng (bảng 2). Đối với tổng thể các bệnh nhân, các tác dụng phụ liên quan đến thuốc đã xảy ra ở 3,7 % bệnh nhân với T40/A5 so với 1,9 % với đơn trị liệu A5. Tỷ lệ phù ngoại biên chiếm 0.4% như nhau cho cả hai nhóm. Tác dụng phụ liên quan đến thuốc gặp ở 3,8% bệnh nhân dùng T40/A5 so với 1,3 % số bệnh nhân đơn trị liệu T40, không có phù ngoại vi được thông báo [31,32].

Các bệnh nhân tăng huyết áp có tiểu đường

Một nghiên cứu (TEAMSTA Diabetes) [30] đánh giá viên phối hợp telmisartan/amlodipine ở quần thể bệnh nhân tăng huyết áp giai đoạn 1 và 2 (huyết áp tâm thu [4] 150 mmHg) và bệnh tiểu đường. Trong nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng này, bệnh nhân được dùng hoặc phối hợp T80/A10 (n = 352) hoặc A10 đơn trị (n = 354) trong 8 tuần. Phối hợp trong cùng 1 viên Telmisartan / amlodipine làm giảm thêm huyết áp so với đơn trị liệu amlodipine và tần số cao đạt được huyết áp mục tiêu. Cho tiêu chí đầu tiên, sự phối hợp telmisartan / amlodipine làm giảm huyết áp tâm thu trung bình nhiều hơn đáng kể từ mức ban đầu đến 8 tuần so với A10 đơn trị (28,9 mmHg so với 22,9 mmHg; p [5] 0,0001). Trên 70% bệnh nhân đạt được huyết áp mục tiêu 140/90 mmHg (71,4%) với điều trị phối hợp telmisartan / amlodipine so với 53,8% điều trị amlodipine đơn trị, và hơn một phần ba đạt huyết áp mục tiêu chặt chẽ hơn [5] 130/80 mmHg trong vòng 8 tuần điều trị (36,4% với telmisartan / amlodipine , so với 17,9% với amlodipine đơn trị liệu).

Giảm huyết áp ổn định được quan sát trong 24 giờ ở một tập hợp con bệnh nhân được đo huyết áp lưu động (ABMP) 24 giờ (n = 132) [30]. Thay đổi trung bình huyết áp từ lúc đầu đến tuần thứ 8 cao hơn có ý nghĩa thống kê trong nhóm viên phối hợp telmisartan / amlodipine so với amlodipine đơn trị cho cả huyết áp tâm thu (p= 0,0044) và huyết áp tâm trương (p= 0.0004). Hơn một nửa số bệnh nhân trong nhóm viên phối hợp telmisartan / amlodipine đạt được 130/80 mmHg huyết áp 24 giờ [5], tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu ở nhóm điều trị A10 đơn trị (52,9 % so với 39,1%, tương ứng).

Một tỷ lệ bệnh nhân tương tự có tác dụng phụ liên quan đến thuốc trong nhóm sử dụng viên phối hợp telmisartan / amlodipine và trong nhóm đơn trị liệu amlodipine (19,6% và 20,3%, tương ứng). Tác dụng phụ nghiêm trọng đã được thông báo 1,1% bệnh nhân ở nhóm T80/A10 so với 2,8 % ở nhóm A10. Mặc dù phù ngoại biên đã giảm với viên phối hợp T80/A10 so với A10 đơn trị (17,6 % so với 20,1%, tương ứng), giảm dường như không đáng kể được quan sát thấy ở những bệnh nhân không bị tiểu đường [30]. Tuy nhiên, chỉ có 1,7 % ở nhóm T80/A10 so với 4,5 % ở nhóm A10 được coi là có liên quan về mặt lâm sàng (tức là trung bình đến nặng) và tỉ lệ thấp ngưng thuốc do phù ngoại vi (T80/A10 1,4 % so với A10 2,8%).

Phần II đang cập nhật