THÁI THANH TRÚC, PHẠM HÙNG,
PHẠM THỊ THU PHƯƠNG, NGUYỄN THỊ THU AN,
TRẦN NGUYỄN THỤC VY, PHẠM VĨNH NGHI,
LÊ TRƯỜNG AN, LÊ ĐỨC VIỆT
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Tăng huyết áp (THA) là một vấn đề sức khỏe toàn cầu. Tỷ lệ kiểm soát huyết áp trên thực tế vẫn còn thấp, và THA kháng trị tiếp tục là thách thức trong thực hành lâm sàng. Việc sử dụng thuốc hạ áp có sự khác biệt giữa các bối cảnh và quốc gia.
Mục tiêu: Tổng hợp bằng chứng về tỷ lệ kiểm soát huyết áp, THA kháng trị và sử dụng thuốc hạ áp tại Việt Nam.
Từ khóa: kiểm soát huyết áp, tăng huyết áp kháng trị, thuốc hạ áp, tổng quan hệ thống, phân tích gộp
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một thách thức sức khỏe toàn cầu. Theo WHO, năm 2024, có hơn 1,4 tỷ người mắc THA trên toàn thế giới.1 Tỷ lệ THA đang gia tăng rõ rệt tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình.2 THA là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây đột quỵ, nhồi máu cơ tim, suy tim, bệnh thận mạn và tử vong sớm, đồng thời là nguyên nhân hàng đầu có thể phòng ngừa được của bệnh tim mạch toàn cầu.1,2
Kiểm soát huyết áp hiệu quả là mục tiêu trong quản lý THA. Các hướng dẫn hiện nay như ESC 2024 và ACC/AHA 2025 khuyến cáo mục tiêu kiểm soát huyết áp <130/80 mmHg ở bệnh nhân THA. Tuy nhiên, ngưỡng <140/90 mmHg vẫn được sử dụng phổ biến trong nhiều nghiên cứu trước đây để định nghĩa kiểm soát huyết áp. Tuy nhiên, tỷ lệ kiểm soát huyết áp trên thực tế vẫn chưa tối ưu. Mặc dù 44% người bệnh được chẩn đoán và điều trị, nhưng chỉ khoảng 23% kiểm soát người kiểm soát huyết áp.1 Điều này cho thấy khoảng cách đáng kể giữa khuyến cáo điều trị và thực tế.
Ngoài ra, THA kháng trị cũng là một thách thức quan trọng khác, với khoảng 100-500 triệu người trên toàn thế giới bị ảnh hưởng. Một phân tích gộp trên 3,2 triệu bệnh nhân cho thấy tỷ lệ THA kháng trị khoảng 10% trong số bệnh nhân đang điều trị THA.3 Một số nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ này dao động từ 9% đến 20%.4,5 Tỷ lệ THA kháng trị cao hơn ở bệnh nhân đái tháo đường, bệnh thận mạn, béo phì, người cao tuổi và bệnh nhân sử dụng nhiều thuốc hạ áp. Các đặc điểm lâm sàng có liên quan đáng kể đến THA kháng trị bao gồm số lượng thuốc hạ huyết áp được sử dụng, giới tính nam, tuổi cao, béo phì, thu nhập thấp, trầm cảm.5
Để đạt được huyết áp mục tiêu thường cần phối hợp từ hai thuốc hạ áp trở lên. Việc lựa chọn hợp lý các nhóm thuốc như thuốc ức chế men chuyển (ACEI), chẹn thụ thể angiotensin (ARB), chẹn kênh canxi (CCB), lợi tiểu thiazide, chẹn beta giao cảm (BB) hoặc các phác đồ phối hợp đóng vai trò quyết định trong hiệu quả kiểm soát huyết áp.6 Tuy nhiên, mô hình sử dụng thuốc hạ áp trên thực tế có thể khác biệt đáng kể giữa các quốc gia, các tuyến điều trị và nhóm bệnh nhân khác nhau.
Tại Việt Nam, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu riêng lẻ báo cáo về tỷ lệ kiểm soát huyết áp, THA kháng trị và sử dụng thuốc hạ áp, các kết quả còn phân tán, chưa đồng nhất. Đặc biệt, chưa có nghiên cứu tổng hợp một cách hệ thống để cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng quản lý THA trong nước. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm tổng hợp bằng chứng về tỷ lệ kiểm soát huyết áp, tỷ lệ THA kháng trị và việc sử dụng thuốc hạ áp thông qua tổng quan hệ thống và phân tích gộp.
PHƯƠNG PHÁP
Bài báo này tuân theo hướng dẫn của PRISMA (2020), đề cương nghiên cứu đã đăng ký trên PROSPERO (CRD420261359406).
Tiêu chí chọn mẫu
Bài báo gốc thực hiện trên người trưởng thành (≥18 tuổi) được chẩn đoán THA, tại các bối cảnh khác nhau bao gồm bệnh viện, phòng khám chuyên khoa hoặc cộng đồng. Các nghiên cứu phải báo cáo ít nhất một trong các kết quả quan tâm, bao gồm tỷ lệ kiểm soát huyết áp (theo ngưỡng <140/90 mmHg hoặc <130/80 mmHg), tỷ lệ THA không kiểm soát, tỷ lệ THA kháng trị, hoặc sử dụng thuốc hạ áp (phân bố các nhóm thuốc hoặc sử dụng phối hợp, bao gồm cả fixed-dose combination). Chỉ các bài báo bằng tiếng Anh hoặc tiếng Việt được xem xét. Đối với các kết cục về tỷ lệ kiểm soát huyết áp và việc sử dụng thuốc hạ áp, chỉ các nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam được đưa vào phân tích nhằm đảm bảo tính đại diện cho bối cảnh trong nước. Đối với kết cục THA kháng trị, do số lượng nghiên cứu tại Việt Nam còn hạn chế, các nghiên cứu từ các quốc gia châu Á có đặc điểm dân số và bối cảnh tương đồng cũng được đưa vào phân tích.
Các nghiên cứu bị loại nếu thực hiện trên phụ nữ mang thai, THA thứ phát hoặc quần thể nhi khoa, hoặc là bài tổng quan, xã luận, báo cáo ca bệnh hay tóm tắt hội nghị không cung cấp đầy đủ dữ liệu. Ngoài ra, các nghiên cứu không báo cáo hoặc không trích xuất được số liệu cần thiết để tính toán tỷ lệ cho các kết quả quan tâm cũng bị loại khỏi phân tích. Các nghiên cứu trùng lặp giữa các cơ sở dữ liệu sẽ được giữ lại nghiên cứu thể hiện đúng mục tiêu và kết quả được thể hiện đầy đủ nhất.
Tìm kiếm dữ liệu và quy trình chọn nghiên cứu
Việc tìm kiếm tài liệu được thực hiện trên hai cơ sở dữ liệu chính là PubMed và Embase, sử dụng các từ khóa liên quan như “hypertension”, “blood pressure”, “prevalence”, “resistant hypertension”, “blood pressure control”, “antihypertensive agents”, “combination therapy” và “fixed-dose combination”. Bên cạnh đó, chúng tôi còn tiến hành tìm kiếm các từ khóa tiếng việt tương đương trên 07 tạp chí y học trong nước kết hợp tra cứu tại các thư viện đại học Y khoa. Quy trình lựa chọn nghiên cứu được thực hiện bao gồm các bước loại trùng lặp, sàng lọc tiêu đề và tóm tắt, đánh giá toàn văn và lựa chọn nghiên cứu cuối cùng.
Đánh giá chất lượng nghiên cứu
Bảng kiểm STROBE, và các hướng dẫn cập nhật được sử dụng để đánh giá chất lượng các nghiên cứu.
Trích xuất dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu được trích xuất bao gồm thông tin chung của nghiên cứu (tác giả, năm xuất bản, địa điểm, thiết kế nghiên cứu, cỡ mẫu), đặc điểm dân số (đối tượng nghiên cứu, tuổi, giới tính), và các kết quả chính (tỷ lệ kiểm soát huyết áp, THA không kiểm soát, THA kháng trị, ngưỡng chẩn đoán, cũng như việc sử dụng thuốc hạ áp).
Phân tích thống kê
Dữ liệu được phân tích bằng Stata 17.0. Nghiên cứu sử dụng mô hình tác động ngẫu nhiên để tính toán sự không đồng nhất giữa các nghiên cứu. Mức độ dị chất được đánh giá bằng chỉ số I². Phân tích gộp được thực hiện riêng biệt cho từng kết cục. Đối với THA kháng trị và đặc điểm sử dụng thuốc, phân tích được thực hiện cho cả các nghiên cứu từ Việt Nam và các quốc gia châu Á.
KẾT QUẢ
Đặc điểm các nghiên cứu và người tham gia
Nghiên cứu thực hiện theo hướng dẫn PRISMA và có 124 nghiên cứu cuối cùng được đưa vào phân tích. Trong đó, có 26 nghiên cứu tại Việt Nam cho tỷ lệ kiểm soát huyết áp và các yếu tố liên quan, 16 nghiên cứu (2 nghiên cứu tại Việt Nam và 14 nghiên cứu từ các quốc gia châu Á) cho tỷ lệ THA kháng trị và 101 nghiên cứu cho sử dụng thuốc hạ áp, trong đó gồm 11 nghiên cứu tại Việt Nam và 90 nghiên cứu từ các quốc gia châu Á (Hình 1, Phụ lục: www.trim.vn/WdJT6X).
Kết quả đánh giá theo STROBE cho thấy phần lớn nghiên cứu có chất lượng tương đối tốt (Hình 2, Phụ lục). Tất cả các nghiên cứu (100%) đều trình bày đầy đủ nền tảng lý thuyết, mục tiêu nghiên cứu, biến số chính, dữ kiện kết cuộc, diễn giải và bàn luận kết quả. Các nội dung liên quan đến thiết kế nghiên cứu cũng được báo cáo đầy đủ ở trên 99,1% nghiên cứu. Tuy nhiên, một số tiêu chí về phương pháp nghiên cứu vẫn còn hạn chế khi chỉ 33,9% báo cáo phương pháp tính cỡ mẫu và chỉ có 41,9% trình bày đầy đủ về kiểm soát sai lệch.

Biểu đồ 1 cho thấy tỷ lệ kiểm soát huyết áp là 58% (KTC 95%: 51%–66%). Tỷ lệ này dao động đáng kể giữa các nghiên cứu, từ 24% đến 96%. Trong phân tích phân nhóm, 17 nghiên cứu sử dụng duy nhất ngưỡng kiểm soát huyết áp <140/90 mmHg cho thấy tỷ lệ kiểm soát huyết áp gộp là 56%. Hiện nay tại Việt Nam vẫn còn hạn chế các nghiên cứu áp dụng ngưỡng <130/80 mmHg theo các khuyến cáo mới; chỉ có nghiên cứu của Hồ Thị Kim Thanh báo cáo kết quả theo cả hai ngưỡng này. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ kiểm soát huyết áp đạt 72,1% khi sử dụng ngưỡng <140/90 mmHg, nhưng giảm còn 27,3% khi áp dụng ngưỡng <130/80 mmHg. Đồng thời, dựa trên các hướng dẫn ESC 2024, ACC 2025, phân tích phân nhóm theo thời gian thu thập số liệu cho thấy tỷ lệ kiểm soát huyết áp trước năm 2024 là 61%, trong khi từ năm 2024 trở đi giảm còn 51%. Kết quả này có thể phản ánh xu hướng áp dụng các mục tiêu kiểm soát huyết áp chặt chẽ hơn trong thực hành lâm sàng gần đây. Kết quả tổng hợp (Biểu đồ 5, Phụ lục) cho thấy kiểm soát huyết áp có liên quan đến nhiều nhóm yếu tố khác nhau. Nhóm yếu tố hành vi sức khỏe làm giảm khả năng kiểm soát huyết áp bao gồm béo phì (OR dao động từ 0,16 – 0,53), béo bụng (OR: 0,34 – 0,60), bệnh thận mạn (OR: 0,36 – 0,45) và đái tháo đường (OR: 0,08 – 0,54), thời gian mắc THA kéo dài (OR: 0,28 – 0,90). Nhóm yếu tố hành vi lối sống làm tăng khả năng kiểm soát huyết áp gồm giảm muối/hạn chế ăn mặn (OR: 3,10 – 15,10), tuân thủ điều trị (OR: 1,63 – 17,80) có hoạt động thể lực (OR: 1,57 – 5,03), không hút thuốc lá (OR: 1,83 – 3,57), không sử dụng rượu bia (OR: 3,30 – 8,33). Các yếu tố này được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu với xu hướng nhất quán. Ngoài ra, nhóm đặc điểm nhân khẩu học như giới tính, nơi ở, tuổi cũng được ghi nhận có liên quan đến kiểm soát huyết áp, tuy nhiên mức độ và chiều hướng khác nhau giữa các nghiên cứu.
Biểu đồ 1. Tỷ lệ kiểm soát huyết áp của các nghiên cứu tại Việt Nam phân theo thời gian thu thập số liệu trước năm 2024 và từ năm 2024 trở đi

Biểu đồ 2 cho thấy tại Việt Nam, tỷ lệ THA kháng trị gộp từ 2 nghiên cứu là 10% (KTC 95%: 7%–12%), với mức độ dị chất hầu như không đáng kể (I² = 0%, p = 0,834). Trong khi đó, các nghiên cứu từ các quốc gia khác ghi nhận tỷ lệ gộp là 12% (KTC 95%: 8%–15%), tuy nhiên có mức độ dị chất rất cao giữa các nghiên cứu (I² = 99,8%, p < 0,001). Khi phân tích chung tất cả các nghiên cứu, tỷ lệ THA kháng trị gộp là 11% (KTC 95%: 8%–14%). Kết quả kiểm định cho thấy không có sự khác biệt giữa nghiên cứu tại Việt Nam và châu Á (χ² = 0,36; p = 0,5459).

Biểu đồ 2. Tỷ lệ tăng huyết áp kháng trị của các nghiên cứu tại Việt Nam và châu Á
Các yếu tố liên quan đến THA kháng trị được thể hiện ở bảng kết quả tổng hợp (Bảng 2, Phụ lục) được tổng hợp từ 9 nghiên cứu cho thấy các yếu tố liên quan bao gồm nhóm đặc điểm bệnh THA, nhóm các bệnh lý đồng mắc, nhóm chỉ số cận lâm sàng và thể trạng cơ thể, nhóm hành vi lối sống và nhóm nhân khẩu học. Nhóm yếu tố được khảo sát nhiều ở các nghiên cứu làm tăng khả năng mắc THA kháng trị bao gồm thời gian mắc bệnh THA (OR: 1,07 – 3,40), bệnh thận mạn/suy thận (OR: 1,65 – 4,71), bệnh đái tháo đường (OR: 2,99 – 3,26), bệnh lý tim mach (OR: 1,5 – 5,39) và thừa cân, béo bụng (OR: 1,17 – 6,87). Mối liên quan này cũng được ghi nhận cùng chiều hướng với các yếu tố như, đường huyết lúc đói cao (OR: 1,04–5,70), phân độ huyết áp (OR: 7,90–39,05), rối loạn giấc ngủ, sử dụng thuốc lá, có sử dụng nhóm thuốc kháng viêm không steroid và tăng cholesterol toàn phần. Riêng nhóm yếu tố liên quan đến tuổi, giới được tìm thấy có mối liên quan đến THA kháng trị nhưng có kết quả chiều hướng khác nhau (Biểu đồ 7, Phụ lục)
Bảng 2. Sử dụng các nhóm thuốc theo từng nhóm bệnh nhân tăng huyết áp
| Nhóm thuốc | Bệnh nhân THA | Bệnh nhân THA kiểm soát | Bệnh nhân THA kháng trị | |||
| Tỷ lệ gộp %
(KTC 95%) |
I² (%) | Tỷ lệ gộp %
(KTC 95%) |
I² (%) | Tỷ lệ gộp %
(KTC 95%) |
I² (%) | |
| ACEi | 23 (21–24) | 99,99 | 31 (12–50) | 99,75 | 30 (23–38) | 0 |
| ARB | 36 (31–41) | 100,00 | 32 (0–69) | 99,77 | 63 (54–70) | 0 |
| ACEi/ARB | 63 (51–75) | 98,96 | 63 (49–76) | 94,09 | 97 (95–99) | 0 |
| CCB | 45 (42–49) | 99,99 | 47 (27–67) | 99,82 | 88 (85–90) | 0 |
| Beta-blocker | 24 (19–28) | 99,95 | 22 (14–31) | 99,42 | 66 (49–83) | 95,94 |
| Alpha-blocker | 3 (2–3) | 99,49 | 0 (0–0) | 0 | 65 (50–78) | 0 |
| Diuretic | 23 (21–25) | 99,99 | 20 (8–31) | 99,61 | 73 (36–111) | 98,79 |
| Loop diuretic | 14 (8–21) | 95,69 | ||||
| MRA | 2 (1–4) | 80,06 | 14 (11–17) | 0 | 6 (3–11) | 0 |
| CAA | 1 (0–2) | 0 | 31 (26–36) | 0 | ||
| Vasodilator | 0 (0–0) | 0 | 3 (2–5) | 0 | 1 (0–2) | 0 |
(Chú giải: ACEi: thuốc ức chế men chuyển angiotensin; ARB: thuốc chẹn thụ thể angiotensin II; ACEi/ARB: thuốc ức chế hệ renin–angiotensin; CCB: thuốc chẹn kênh canxi; Beta-blocker: thuốc chẹn beta giao cảm; Alpha-blocker: thuốc chẹn alpha giao cảm; Diuretic: thuốc lợi tiểu; Loop diuretic: thuốc lợi tiểu quai; MRA: thuốc đối kháng thụ thể mineralocorticoid; CAA: thuốc tác động trung ương; Vasodilator: thuốc giãn mạch).
Kết quả bảng 2 mô tả tỷ lệ sử dụng các loại thuốc hạ huyết áp ở ba nhóm đối tượng gồm bệnh nhân THA chung, bệnh nhân THA có kiểm soát và bệnh nhân THA kháng trị. Kết quả cho thấy nhóm thuốc hạ áp ACEi/ARB là nhóm thuốc được sử dụng phổ biến nhất ở cả ba nhóm bệnh nhân. Ở nhóm bệnh nhân THA nói chung, tỷ lệ sử dụng ACEi/ARB đạt 63% (KTC 95%: 51%–75%), tiếp theo là CCB 45% (KTC 95%: 42%–49%) và ARB 36% (KTC 95%: 31%–41%). Ở nhóm bệnh nhân kiểm soát huyết áp, ACEi/ARB và CCB tiếp tục là hai nhóm thuốc được sử dụng nhiều nhất với tỷ lệ gộp lần lượt là 63% (KTC 95%: 49%–76%) và 47% (KTC 95%: 27%–67%). Trong khi đó, ở nhóm bệnh nhân THA kháng trị, tỷ lệ sử dụng thuốc cao hơn rõ rệt, đặc biệt với ACEi/ARB (97%), CCB (88%), lợi tiểu (73%) và beta-blocker (66%), cho thấy xu hướng điều trị phối hợp nhiều nhóm thuốc ở các trường hợp khó kiểm soát huyết áp. Các nhóm thuốc như Alpha-blocker, CAA và Vasodilator ít được sử dụng ở quần thể THA chung nhưng tăng lên ở nhóm kháng trị. Mức độ dị hợp giữa các nghiên cứu ở nhóm THA nói chung rất cao, với hầu hết các phân tích có I² >95%. Một số phân tích ở nhóm THA kiểm soát và THA kháng trị có I² bằng 0% do số lượng các nghiên cứu rất ít.
Bảng 3: Số lượng thuốc sử dụng theo từng nhóm bệnh nhân tăng huyết áp
| Bệnh nhân | Khu vực | Tỷ lệ gộp nhóm số thuốc hạ áp sử dụng % (KTC 95%) | |||||||
| 0 thuốc | 1 thuốc | 2 thuốc | ≥ 3 thuốc | 3 thuốc | ≥ 4 thuốc | FDC | Free combination | ||
| THA | Việt Nam | 34 (18-49) | 45 (37-52) | 22 (15-29) | 27 (25-28) | 19 (17-20) | |||
| Đông Nam Á | 2 (2-2) | 46 (39-53) | 37 (33-41) | 16 (13-19) | 13 (11-16) | 5 (3-6) | |||
| Đông Á | 19 (7-31) | 49 (39-59) | 31 (25-37) | 20 (13-27) | 30 (18-42) | 41 (9-72) | |||
| Nam Á | 2 (1-3) | 42 (36-47) | 42 (37-47) | 18 (15-21) | 48 (26-69) | 41 (9-72) | |||
| Tây Á | 19 (7-31) | 43 (23-63) | 43 (31-55) | 15 (6-23) | 26 (21-31) | 26 (21-31) | |||
| Toàn châu Á | 10 (7-14) | 43 (38-48) | 40 (37-43) | 19 (16-22) | 37 (27-47) | 30 (25-35) | |||
| THA kiểm soát | Nam Á | 2 (1-6) | 68 (61-75) | 22 (17-29) | 7 (4-12) | ||||
| Tây Á | 8 (6-9) | 47 (33-60) | 49 (45-52) | 8 (6-10) | |||||
| Toàn châu Á | 14 (5-23) | 52 (35-69) | 38 (20-56) | 8 (6-9) | |||||
| THA kháng trị | Việt Nam | 31 (26-36) | 69 (64-74) | ||||||
| Đông Á | 41 (24-57) | 59 (43-76) | |||||||
| Tây Á | 73 (65-80) | 27 (20-35) | |||||||
| Toàn châu Á | 41 (24-57) | 59 (43-76) | |||||||
(Chú giải: FDC – Fixed-dose combination: phối hợp liều cố định; Free combination: phối hợp tự do)
Kết quả bảng 3 mô tả tỷ lệ sử dụng số lượng thuốc hạ áp ở ba nhóm đối tượng gồm bệnh nhân THA chung, bệnh nhân THA có kiểm soát và bệnh nhân THA kháng trị. Kết quả cho thấy ở nhóm bệnh nhân THA nói chung, đơn trị liệu và phối hợp hai thuốc là các chiến lược điều trị phổ biến nhất, với tỷ lệ gộp toàn châu Á lần lượt là 43% 43% (KTC 95%: 38%–48%) và 40% (KTC 95%: 37%–43%). Trong khi đó tỷ lệ sử dụng từ 3 thuốc trở lên thấp hơn, khoảng 19% (KTC 95%: 16%–22%). Việt Nam có xu hướng sử dụng phối hợp thuốc cao hơn so với nhiều khu vực châu Á khác, với tỷ lệ sử dụng phối hợp 2 thuốc đạt 45% (KTC 95%: 37%–52%) và sử dụng từ 3 thuốc trở lên đạt 22% (KTC 95%: 15%–29%). Mặc dù tại Việt Nam việc điều trị có xu hướng sử dụng số lượng thuốc nhiều hơn, nhưng tỷ lệ sử dụng các dạng thuốc phối hợp cố định hoặc phối hợp tự do (27% và 19%) thấp hơn mức gộp toàn châu Á (37% và 30%).
Ở nhóm bệnh nhân THA kiểm soát, đa số bệnh nhân được kiểm soát huyết áp bằng đơn trị liệu hoặc phối hợp hai thuốc, với tỷ lệ gộp toàn châu Á lần lượt là 52% (KTC 95%: 35%–69%) và 38% (KTC 95%: 20%–56%), trong khi tỷ lệ sử dụng từ 3 thuốc trở lên chỉ khoảng 8% (KTC 95%: 6%–9%). Ngược lại, ở nhóm bệnh nhân THA kháng trị, điều trị đa thuốc chiếm ưu thế rõ rệt. Tỷ lệ sử dụng 3 thuốc đạt 41% (KTC 95%: 24%–57%), và tỷ lệ sử dụng từ 4 thuốc trở lên đạt 59% (KTC 95%: 43%–76%). Việt Nam và Đông Á ghi nhận tỷ lệ sử dụng từ 4 thuốc trở lên khá cao với 69% (KTC 95%: 64%–74%), phản ánh đặc điểm điều trị tích cực hơn ở nhóm bệnh nhân khó kiểm soát huyết áp.
BÀN LUẬN
Tỷ lệ kiểm soát huyết áp và các yếu tố liên quan
Tỷ lệ kiểm soát huyết áp gộp trong nghiên cứu này là 58%, cao hơn đáng kể so với các kết quả từ các phân tích gộp tại nhiều khu vực. Cụ thể, tổng quan hệ thống của Koya (2023)7 tại Ấn Độ ghi nhận tỷ lệ kiểm soát huyết áp trong giai đoạn 2001–2020 là 17,5% (KTC 95%: 14,3%–20,6%), mặc dù có xu hướng cải thiện theo thời gian, đạt 22,5% (KTC 95%: 16,9%–28,0%) trong giai đoạn 2016–2020. Tương tự, phân tích gộp của Qi (2026) trên 27 nghiên cứu trong giai đoạn 2016–2022 cũng cho thấy tỷ lệ kiểm soát huyết áp còn thấp (khoảng 14,9% với KTC 95%: 11,1%–18,7%).8 Ngoài ra, tổng quan hệ thống của Mohammadian Khonsari tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi báo cáo tỷ lệ kiểm soát huyết áp gộp là 19% (KTC 95%: 17%–21%).9 Sự khác biệt giữa các nghiên cứu có thể được giải thích bởi một số yếu tố. Thứ nhất, phần lớn các nghiên cứu trong phân tích này được thực hiện tại cơ sở y tế, nơi bệnh nhân có khả năng được chẩn đoán, điều trị và theo dõi tích cực hơn so với các nghiên cứu dựa vào cộng đồng. Thứ hai, sự khác biệt về ngưỡng kiểm soát huyết áp (<140/90 mmHg hay <130/80 mmHg), đặc điểm dân số nghiên cứu và mức độ tuân thủ điều trị có thể ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ kiểm soát được báo cáo. Việc áp dụng tiêu chuẩn kiểm soát huyết áp nghiêm ngặt hơn có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ bệnh nhân đạt mục tiêu điều trị. Điều này được giải thích với nghiên cứu của Bogale (2021)10 ở Ethiopia, khi áp dụng ngưỡng 140/90 và 130/80 mmHg thì tỷ lệ này lần lượt là 43,8% và 12,3%. Ngoài ra, dựa trên các khuyến cáo gần đây của ESC 2024 và ACC 2025, phân tích phân nhóm theo thời gian thu thập số liệu cho thấy tỷ lệ kiểm soát huyết áp giảm cho nhóm các nghiên cứu thực hiện từ năm 2024 trở đi. Kết quả này có thể phản ánh xu hướng áp dụng các mục tiêu kiểm soát huyết áp chặt chẽ hơn trong thực hành lâm sàng gần đây. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 42% người bệnh chưa đạt huyết áp mục tiêu, cho thấy gánh nặng kiểm soát huyết áp chưa tối ưu vẫn còn đáng kể. Điều này nhấn mạnh nhu cầu tăng cường các chiến lược quản lý tăng huyết áp toàn diện như cải thiện tuân thủ điều trị, thúc đẩy thay đổi lối sống, tăng cường theo dõi huyết áp định kỳ và củng cố quản lý tăng huyết áp tại y tế cơ sở nhằm góp phần làm tăng tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu trong cộng đồng.
Kết quả phân tích cho thấy nhóm người bệnh THA có tình trạng dinh dưỡng béo phì, béo bụng, đái tháo đường, rối loạn lipid máu làm giảm khả năng kiểm soát huyết áp, ngược lại hoạt động thể lực góp phần làm tăng khả năng kiểm soát huyết áp. Kết quả này tương đồng với một số nghiên cứu trước đây ghi nhận mối liên quan giữa các yếu tố lối sống và tình trạng kiểm soát huyết áp kém. Nghiên cứu của Tripathy (2017) cho thấy THA không kiểm soát thường gặp hơn ở người béo phì, người có lối sống ít vận động và bệnh nhân đái tháo đường.11 Tương tự, kết quả nghiên cứu của Thankappan cũng ghi nhận tình trạng kiểm soát huyết áp kém phổ biến hơn ở nhóm bệnh nhân béo phì và đái tháo đường.12 Bên cạnh đó, các hành vi sức khỏe như giảm muối, hút thuốc lá, sử dụng rượu bia và quản lý cân nặng cũng có mối liên quan đáng kể với kiểm soát huyết áp, phản ánh vai trò quan trọng của lối sống trong kiểm soát bệnh. Nghiên cứu cũng ghi nhận một số yếu tố nhân khẩu học như nơi ở và tiền sử gia đình có liên quan đến kiểm soát huyết áp, tuy nhiên mức độ và xu hướng khác nhau giữa các yếu tố. Đồng thời, các nghiên cứu trước đây cho thấy bằng chứng về các yếu tố xã hội còn hạn chế, đặc biệt là trình độ học vấn, thu nhập và tình trạng kinh tế – xã hội. Điều này cũng được phản ánh trong phân tích gộp của Koya (2023), khi các yếu tố xã hội chưa được báo cáo đầy đủ và nhất quán giữa các nghiên cứu.7
Tỷ lệ tăng huyết áp kháng trị và các yếu tố liên quan
Tỷ lệ THA kháng trị được phân tích gộp tại Việt Nam là 10%, tương đồng với các quốc gia khác trong khu vực châu Á, và phù hợp kết quả ghiên cứu Noubiap (2019)13 với tỷ lệ THA kháng trị gộp là 10,3% (KTC 95%: 7,6 – 13,2). Tuy nhiên, kết quả này tại Việt Nam chưa phản ánh đầy đủ thực trạng THA kháng trị do chỉ có hai nghiên cứu được đưa vào phân tích.Vì vậy nên mức độ dị chất hầu như không đáng kể, do đặc điểm thiết kế và quần thể nghiên cứu tương đối tương đồng giữa hai nghiên cứu. Ở các quốc gia châu Á khác, tỷ lệ THA kháng trị gộp là 12%, cao hơn tỷ lệ THA kháng trị gộp trong nghiên cứu của Li và cộng sự (2026)14 là 11% (KTC 95%: 4 – 30), nhưng thấp hơn ghiên cứu Achelrod (2015)15 là 13,72% (KTC 95%: 11,19 – 16,24). Mức độ dị chất rất cao giữa các nghiên cứu trong khu vực châu Á có thể liên quan đến sự khác biệt về tiêu chuẩn chẩn đoán, phương pháp đo huyết áp và đặc điểm dân số nghiên cứu giữa các quốc gia.
Các yếu tố liên quan đến THA kháng trị được ghi nhận trong nghiên cứu bao gồm bệnh thận mạn, đái tháo đường, béo phì, tuổi cao và hội chứng ngưng thở khi ngủ, phù hợp với các nghiên cứu trước đây trên thế giới.16 Những bệnh lý này có thể thúc đẩy tình trạng kháng trị thông qua cơ chế hoạt hóa thần kinh giao cảm, tăng giữ muối nước và tổn thương cơ quan đích. Ngoài ra, đặc điểm bệnh THA như thời gian mắc bệnh kéo dài hoặc huyết áp ban đầu cao, đặc biệt ở THA độ 3 hoặc thời gian mắc bệnh trên 10 năm, cũng liên quan đáng kể đến nguy cơ THA kháng trị. Bên cạnh đó, lạm dụng rượu bia, hút thuốc lá, rối loạn giấc ngủ và sử dụng thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) là các yếu tố được ghi nhận nhưng chưa được tổng hợp đầy đủ trong các nghiên cứu trước đây.14 Kết quả tổng hợp của nghiên cứu này cho thấy sự không nhất quán giữa tuổi của những quần thể khác nhau.
Sử dụng thuốc hạ áp
Ở nhóm bệnh nhân THA nói chung, ACEi/ARB là nhóm thuốc hạ áp được sử dụng phổ biến nhất với tỷ lệ gộp 63%, tiếp theo là thuốc CCB với tỷ lệ gộp 47%. Kết quả này tương đồng với tổng quan hệ thống toàn cầu của Abdelkader (2020)17 trong đó ACEi/ARB là nhóm thuốc đơn trị thường được kê đơn nhiều nhất ở bệnh nhân THA không có bệnh đồng mắc, tiếp theo là CCB. Trong nhóm bệnh nhân đái tháo đường, ACEi/ARB cũng là nhóm được sử dụng phổ biến nhất, phản ánh vai trò ưu tiên của nhóm thuốc ức chế hệ renin–angiotensin trong thực hành lâm sàng. Kết quả cũng phù hợp với với các khuyến cáo hiện hành của Tổ chức Y tế Thế giới,18 Hiệp hội THA Quốc tế,19 và Hiệp hội THA Châu Âu,20 trong đó các nhóm thuốc hàng đầu trong điều trị THA gồm lợi tiểu, ACEi/ARB và CCB. Tuy nhiên, một điểm đáng chú ý là tỷ lệ sử dụng lợi tiểu ở nhóm bệnh nhân THA còn khá thấp (23%), đặc biệt khi so với nhóm bệnh nhân THA kháng trị có sử dụng lợi tiểu rất cao (73%). Điều này có thể phản ánh sự khác biệt về mức độ nặng của bệnh, bệnh đồng mắc, lo ngại tác dụng phụ của lợi tiểu, đặc điểm bệnh nhân, cũng như thói quen kê đơn tại từng tuyến điều trị. So với bối cảnh quốc tế, việc sử dụng thuốc tại châu Á cho thấy sự ưu thế rõ của ACEi/ARB và CCB, trong khi lợi tiểu và các phối hợp liều cố định có thể chưa được khai thác tương xứng. Ngược lại, trong nhóm bệnh nhân THA kháng trị, việc sử dụng ACEi/ARB, CCB, lợi tiểu và beta-blocker đều tăng rõ rệt, phản ánh xu hướng điều trị đa thuốc theo khuyến cáo hiện hành.18 Tỷ lệ sử dụng beta-blocker ở nhóm THA kháng trị cũng cao hơn đáng kể so với nhóm THA chung. Điều này có thể liên quan đến đặc điểm của bệnh nhân THA kháng trị thường có nhiều bệnh đồng mắc tim mạch như bệnh mạch vành, suy tim, rung nhĩ hoặc nhịp nhanh, vốn là các chỉ định thường gặp của beta-blocker trong thực hành lâm sàng. Tuy nhiên, do dữ liệu gộp hiện tại chưa cho phép phân tích đồng thời chỉ định sử dụng chẹn beta theo từng bệnh mắc kèm, kết quả này cần được diễn giải thận trọng và nên được xem là đặc điểm thực hành kê đơn hơn là tính phù hợp của phác đồ điều trị. Ngược lại, tỷ lệ sử dụng MRA trong nhóm THA kháng trị vẫn còn thấp (6%) mặc dù đây là nhóm thuốc được khuyến cáo mạnh, được xem là lựa chọn ưu tiên bổ sung ở bệnh nhân THA kháng trị chưa kiểm soát huyết áp. Một số nghiên cứu trước đây cũng ghi nhận MRA còn chưa được sử dụng đầy đủ trong thực hành lâm sàng, có thể liên quan đến lo ngại tăng kali máu, suy giảm chức năng thận, khác biệt trong khả năng tiếp cận thuốc và thói quen kê đơn. Đồng thời các thuốc như alpha-blocker, CAA và thuốc giãn mạch cũng tăng lên ở nhóm THA kháng trị, đây được xem là các loại thuốc bổ sung để phối hợp nhiều cơ chế tác động khi phác đồ nền chưa kiểm soát được huyết áp.
Tại châu Á, kết quả phân tích gộp việc sử dụng thuốc cho thấy đơn trị liệu vẫn chiếm ưu thế ở bệnh nhân THA nói chung (43%) so với phối hợp hai thuốc (40%) và từ ba thuốc trở lên (19%). Trong khi nghiên cứu tổng quan hệ thống và phân tích gộp của Salama (2019)21 từ 33 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng cho thấy việc khởi trị bằng phối hợp hai thuốc có hiệu quả hạ huyết áp tốt hơn đơn trị liệu mà không làm dừng điều trị thuốc do tác dụng. Kết quả này cho thấy thực hành điều trị thực tế vẫn còn khoảng cách so với các khuyến cáo quốc tế hiện nay. Theo Hiệp hội THA Châu Âu20 khuyến nghị khởi trị bằng phối hợp hai thuốc cho đa số bệnh nhân THA, đồng thời khuyến cáo sử dụng phối hợp trong một viên nhằm giảm số lượng thuốc và cải thiện tuân thủ điều trị. Theo Hiệp hội THA Quốc tế19 cũng nhấn mạnh đơn trị liệu chủ yếu phù hợp với THA độ 1 nguy cơ thấp, người rất cao tuổi. Tại Việt Nam, việc sử dụng thuốc có sự khác biệt so với mức gộp chung của châu Á, với tỷ lệ sử dụng phối hợp 2 thuốc và từ 3 thuốc trở lên đều cao hơn. Mặc dù số lượng thuốc sử dụng có xu hướng nhiều hơn, nhưng tỷ lệ phối hợp liều cố định và liền tự do tại Việt Nam lại thấp hơn mức gộp toàn châu Á. Điều này cho thấy tại Việt Nam thực hành điều trị có xu hướng phối hợp nhiều thuốc, nhưng hình thức phối hợp chưa đồng nhất, đặc biệt là việc sử dụng phối hợp liều cố định còn hạn chế. Sự khác biệt này có thể liên quan đến khả năng tiếp cận thuốc phối hợp, chi phí, danh mục bảo hiểm y tế, thói quen kê đơn theo từng hoạt chất riêng lẻ, cũng như sự khác biệt giữa nghiên cứu bệnh viện và cộng đồng.
Điểm hạn chế
Nghiên cứu vẫn còn tồn tại một số điểm hạn chế. Thứ nhất, mức độ không đồng nhất giữa các nghiên cứu còn rất cao ở nhiều phân tích gộp do sự khác biệt về thiết kế nghiên cứu, dân số nghiên cứu, bối cảnh lâm sàng và tiêu chuẩn đánh giá kiểm soát huyết áp. Thứ hai, phần lớn các nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện và theo thiết kế cắt ngang, do đó khả năng khái quát cho cộng đồng còn hạn chế. Thứ ba, số lượng nghiên cứu về THA kháng trị tại Việt Nam còn ít, làm giảm khả năng phân tích sâu các yếu tố liên quan. Ngoài ra, chất lượng báo cáo phương pháp học giữa các nghiên cứu chưa đồng nhất, đặc biệt ở các nội dung về kiểm soát sai lệch, tính cỡ mẫu và xử lý yếu tố nhiễu.
KẾT LUẬN
Tỷ lệ kiểm soát huyết áp gộp tại Việt Nam là 58% (KTC 95%: 51%–66%), trong khi tỷ lệ THA kháng trị gộp là 10% (KTC 95%: 7%–12%). ACEi/ARB và CCB là các nhóm thuốc hạ áp được sử dụng phổ biến nhất. Việc điều trị tại Việt Nam có xu hướng sử dụng phối hợp nhiều thuốc hơn, đặc biệt ở nhóm THA kháng trị, tuy nhiên tỷ lệ sử dụng phối hợp liều cố định còn thấp so với mức trung bình châu Á. Các yếu tố liên quan đến kiểm soát huyết áp và THA kháng trị chủ yếu gồm tuân thủ điều trị, lối sống và bệnh đồng mắc. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp bằng chứng tổng hợp cho việc tối ưu hóa chiến lược quản lý và điều trị THA tại Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- World Health Organization. Global report on hypertension 2025: high stakes–turning evidence into action. World Health Organization; 2025.
- Hu T, Yang X, Du Y, et al. Trends in the global, regional, and national burden of cardiovascular diseases attributed to high systolic blood pressure from 1990 to 2021 and projections to 2045: a systematic analysis based on GBD 2021 data. BMC Cardiovascular Disorders. 2025/05/21 2025;25(1):390. doi:10.1186/s12872-025-04807-4
- Noubiap JJ, Nansseu JR, Nyaga UF, Sime PS, Francis I, Bigna JJ. Global prevalence of resistant hypertension: a meta-analysis of data from 3.2 million patients. Heart. Jan 2019;105(2):98-105. doi:10.1136/heartjnl-2018-313599
- Romano S, Rigon G, Albrigi M, et al. Hypertension, uncontrolled hypertension and resistant hypertension: prevalence, comorbidities and prescribed medications in 228,406 adults resident in urban areas. A population-based observational study. Intern Emerg Med. Oct 2023;18(7):1951-1959. doi:10.1007/s11739-023-03376-8
- Acharya T, Tringali S, Singh M, Huang J. Resistant hypertension and associated comorbidities in a veterans affairs population. J Clin Hypertens (Greenwich). Oct 2014;16(10):741-5. doi:10.1111/jch.12410
- Williams B, Mancia G, Spiering W, et al. 2018 ESC/ESH Guidelines for the management of arterial hypertension. Eur Heart J. Sep 1 2018;39(33):3021-3104. doi:10.1093/eurheartj/ehy339
- Koya SF, Pilakkadavath Z, Chandran P, et al. Hypertension control rate in India: systematic review and meta-analysis of population-level non-interventional studies, 2001–2022. The Lancet Regional Health – Southeast Asia. 2023;9doi:10.1016/j.lansea.2022.100113
- Qi D-Y, He X, Qu X-G, Xu P, Chao H, Xue H-F. Prevalence and treatment and control rates of hypertension among Chinese adults from 2016 to 2022: a meta-analysis. BMC Public Health. 2026/02/02 2026;26(1):771. doi:10.1186/s12889-026-26430-4
- Mohammadian Khonsari N, Shahrestanaki E, Ejtahed HS, et al. Long-term Trends in Hypertension Prevalence, Awareness, Treatment, and Control Rate in the Middle East and North Africa: a Systematic Review and Meta-analysis of 178 Population-Based Studies. Curr Hypertens Rep. Oct 8 2021;23(9):41. doi:10.1007/s11906-021-01159-0
- Bogale K, Aderaw A. Blood Pressure Control with Reference to Intensive Blood Pressure Targets Among Hypertension Patients on Chronic Follow-Up at Dessie Referral Hospital, Northeast Ethiopia. Integr Blood Press Control. 2021;14:1-7. doi:10.2147/ibpc.S268186
- Tripathy JP, Thakur JS, Jeet G, Chawla S, Jain S. Alarmingly high prevalence of hypertension and pre-hypertension in North India-results from a large cross-sectional STEPS survey. PloS one. 2017;12(12):e0188619.
- Thankappan KR, Sivasankaran S, Sarma PS, et al. Prevalence-correlates-awareness-treatment and control of hypertension in kumarakom, kerala: baseline results of a community-based intervention program. Indian Heart J. Jan-Feb 2006;58(1):28-33.
- Noubiap JJ, Nansseu JR, Nyaga UF, Sime PS, Francis I, Bigna JJ. Global prevalence of resistant hypertension: a meta-analysis of data from 3.2 million patients. Heart. 2019-01-01 00:00:00 2019;105:98-105.
- Li Y, Lan C, Wang Y, Lei H, Lu C, Liu Y. Prevalence of and associated factors for resistant hypertension in primary care settings: a systematic review and meta-analysis. BMC Public Health. Apr 17 2026;doi:10.1186/s12889-026-27373-6
- Achelrod D, Wenzel U, Frey S. Systematic Review and Meta-Analysis of the Prevalence of Resistant Hypertension in Treated Hypertensive Populations. American Journal of Hypertension. 2015;28(3):355-361. doi:10.1093/ajh/hpu151
- Brant LCC, Passaglia LG, Pinto-Filho MM, de Castilho FM, Ribeiro ALP, Nascimento BR. The Burden of Resistant Hypertension Across the World. Curr Hypertens Rep. Mar 2022;24(3):55-66. doi:10.1007/s11906-022-01173-w
- Abdelkader NN, Awaisu A, Elewa H, El Hajj MS. Prescribing patterns of antihypertensive medications: A systematic review of literature between 2010 and 2020. Exploratory Research in Clinical and Social Pharmacy. 2023/09/01/ 2023;11:100315. doi: https://doi.org/10.1016/j.rcsop.2023.100315
- World Health Organization. WHO guideline for the pharmacological treatment of hypertension in adults. Geneva2021.
- International Society of Hypertension. 2020 International Society of Hypertension Global Hypertension Practice Guidelines. Hypertension. 2020/06/01 2020;75(6):1334-1357. doi:10.1161/HYPERTENSIONAHA.120.15026
- European Society of Hypertension. 2023 ESH guidelines for the management of arterial hypertension. J Hypertens. 2023;41(12):1874-2071.
- Salam A, Kanukula R, Atkins E, et al. Efficacy and safety of dual combination therapy of blood pressure-lowering drugs as initial treatment for hypertension: a systematic review and meta-analysis of randomized controlled trials. J Hypertens. Sep 2019;37(9):1768-1774. doi:10.1097/hjh.0000000000002096







