Mối Tương Quan Giữa N-TERMINAL pro-BNP với các giai đoạn trong quá trình tiến triển của suy tim theo trường Môn Tim Mạch/Hội Tim Hoa Kỳ

0
622
Suy tim là diễn biến cuối cùng của nhiều bệnh tim mạch có thể tiến triển không ngừng từ nguy cơ suy tim đến suy tim GĐ cuối. Việc chẩn đoán suy tim không phải lúc nào cũng dễ. Trước đây chẩn đoán suy tim dựa vào: lâm sàng

BS. NGUYỄN THỊ THU DUNG,
GS.TS. ĐẶNG VẠN PHƯỚC

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy tim luôn là vấn đề lớn của ngành tim mạch vì số BN suy tim ngày càng tăng trên toàn thế giới

Suy tim là diễn biến cuối cùng của nhiều bệnh tim mạch có thể tiến triển không ngừng từ nguy cơ suy tim đến suy tim GĐ cuối. Việc chẩn đoán suy tim không phải lúc nào cũng dễ. Trước đây chẩn đoán suy tim dựa vào: lâm sàng, SA, XQ, ECG. Gần đây các nhà khoa học trên TG tìm ra chất trong máu đó là các peptide bài niệu nhóm B đặc biệt NT-proBNP có vai trò trong chẩn đoán, ước lượng độ nặng và tiên lượng  suy tim. Tại VN dấu ấn sinh học này còn khá mới mẻ và chưa được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng.

II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1. Mục tiêu tổng quát

Đánh giá mối tương quan giữa NT-proBNP với các giai đoạn A, B, C, D trong quá trình tiến triển của suy tim theo ACC/AHA.

2. Mục tiêu chuyên biệt

2.1. Tìm hiểu nồng độ NT-proBNP ở các giai đoạn A, B, C, D và xác định giá trị của nồng độ NT-proBNP trong chẩn đoán suy tim

2.2. Khảo sát mối tương quan giữa NT-proBNP với các giai đoạn A, B, C và D trong nhóm chung và theo phân nhóm: giới, tuổi, độ lọc cầu thận, dung tích hồng cầu, nhịp tim, EF

2.3. Khảo sát mối tương quan giữa NT-proBNP với các yếu tố: giới, tuổi, CLcre, Hct, rung nhĩ, EF ? các GĐ A, B, C và D. Khảo sát mối tương quan giữa NT-proBNP với phân độ suy tim theo NYHA, đường kính thất trái cuối tâm trương và đợt cấp suy tim mạn – suy tim mạn trong nhóm suy tim

III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

BN nguy cơ suy tim và suy tim điều trị tại các khoa tim mạch BV Chợ Rẫy, BV Thống Nhất, Viện Tim, BV 115, BV 175.

3.1.1. Tiêu chuẩn chọn lựa vào nghiên cứu

* Nhóm BN nguy cơ suy tim GĐ A và B:

– Tuổi ³ 50 tuổi không triệu chứng suy tim

– THA, ĐTĐ, bệnh ĐMV, XV ĐM có và không có tổn thương thực thể tim

* Nhóm bệnh nhân  suy tim giai đoạn C:

BN suy tim, có triệu chứng lâm sàng và cận LS thỏa mãn tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim theo Framingham và/ hoặc Hội tim mạch học Châu Âu.

* Nhóm bệnh nhân  suy tim giai đoạn D:

– Mọi lứa tuổi

– Suy tim nặng, kháng trị cần sử dụng thuốc tăng co bóp cơ tim đường tĩnh mạch thường xuyên.

– Tái nhập viện liên tục

3.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ:

1. < 50 tuổi đối với bệnh nhân giai đoạn A, B

2. Suy thận (Clcre < 30 ml/ph/1.73 m2)

3. Xơ gan mất bù

4. Chấn thương tim hoặc chèn ép tim cấp

5. Hội chứng Cushing

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang mô tả có phân tích

3.2.2. Tiến hành nghiên cứu

Từ tháng 3 năm 2008 đến tháng 1 năm 2009

  • BN được hỏi bệnh sử, tiền căn, thăm khám
  • XQ tim phổi thẳng, ECG
  • Một số XN thường quy
  • Siêu âm Doppler tim
  • Xét nghiệm NT-proBNP

Kỹ thuật định lượng NT-proBNP

* Bệnh phẩm:

– BN nằm nghỉ tại giường 30 phút

– Lấy 2ml máu tĩnh mạch cho vào ống nghiệm có chất chống đông EDTA (của Ý hoặc Pháp).

– Bảo quản: ống nghiệm đựng bệnh phẩm cho vào hộp nước đá và đưa đến phòng XN. Nếu chưa đưa được ngay đến phòng XN để bệnh phẩm vào ngăn mát tủ lạnh nhưng không quá 48 giờ.

* Thuốc thử: của Roche

* Máy xét nghiệm: Roche Cobas 6000 tại MEDIC (trung tâm đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế)

3.2.3. Xử lý số liệu

– Bằng các thuật toán thống kê y học dựa trên phần mềm “SPSS for Window 16.0 (2007), kết hợp “STATA”

* Các phép kiểm:

Kiểm định t,  T- Test + One -Way ANOVA, một số phép kiểm phi tham số. Các phép kiểm được coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

IV. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

– Thời gian nghiên cứu: 11 tháng

Từ tháng 03/2008 đến 1/2009

– Địa điểm: Các khoa tim mạch BVTN, BVCR, Viện Tim, BV ĐHYD, BV 175 và BV 115

Tổng số BN: 202 BN (nam 107, nữ 95. Tuổi từ 25 đến 88)

4.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

  • Không có sự khác biệt về giới, BMI, CLcre, Hct giữa 4 nhóm A, B, C và D
  • Tuổi GĐ D < A, B, C . Theo Clerio NT-proBNP tương quan thuận với tuổi. Nếu nồng độ NT-proBNP vẫn tăng ở GĐ C và D mặc dù nhỏ tuổi hơn thì càng tăng giá trị của nghiên cứu.
  • Đặc điểm EF ở các nhóm nghiên cứu

proBNP-H1

proBNP-H2

proBNP-H3

2. Nồng độ NT-proBNP máu tương quan thuận, khá chặt với phân độ suy tim theo NYHA với r = 0,67; p = < 0,0001. Nồng độ NT-proBNP nhóm đợt cấp suy tim mạn cao hơn nồng độ NT-proBNP nhóm suy tim mạn có ý nghĩa thống kê với p = 0,01.

Tương quan thuận, yếu giữa nồng độ NT-proBNP máu với tuổi và giới với r = 0,3; p = 0,01 ở nhóm bệnh nhân giai đoạn A.

Chưa thấy có sự tương quan giữa nồng độ NT-proBNP máu với: chỉ số khối cơ thể, độ lọc cầu thận (với Clcre > 30 ml/ph/1,73 m2), dung tích hồng cầu (với Hct > 30%), trong  cả bốn nhóm giai đoạn ABCD, với tuổi và giới ở 3 nhóm B, C và D, rung nhĩ trong nhóm suy tim.

proBNP-H4

  • Chọn 820 pg/ml có độ chính xác cao nhất 96%,(+) 97%, (_) 95%

Tương tự Muller (825), nhỏ hơn Janzzi (900), Antoni (973), Vũ Hoàng Vũ (1310)

  • < 150 pg/ml độ nhạy 100%, tiên đoán âm100%. Gần giống Roche 125 pg/ml (-) 96,8% loại trừ suy tim
  • > 2000 pg/ml độ đặc hiệu 100%, tiên đoán dương100%
  • Giai đoạn D: NT-proBNP = 11600 pg/ml

–  Độ nhạy 64% và độ đặc hiệu 98%,

–  Giá trị tiên đoán dương 95%, âm 90%.    –  Độ chính xác 92%

Tương tự NC PRIDE và IMPROVE-CHF: NT-proBNP > 10000 pg/ml khả năng suy tim nặng

  • Giai đoạn B: NT-proBNP = 102 pg/ml

– Độ nhạy 72% và độ đặc hiệu 82%

– Giá trị tiên đoán dương 76%, giá trị tiên đoán âm 73%.

– Độ chính xác 74%

> 102 pg/ml nên khảo sát SA tim cho BN kỹ hơn

Chẩn đoán tổn thương thực thể quyết định vẫn là CĐHA: SA, xạ hình….

KẾT LUẬN

Mặc dù còn một số hạn chế, đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu về mối tương quan giữa NT-proBNP với các giai đoạn trong quá trình tiến triển của suy tim theo ACC/AHA, bước đầu cho thấy nồng độ NT-proBNP cung cấp thêm những thông tin quan trọng trong tiến triển suy tim. Qua NC 202 BN chúng tôi xin rút ra kết luận sau:

  1. Nồng độ NT-proBNP máu ở các giai đoạn A, B, C, D:

proBNP-H5

2. Nồng độ NT-proBNP máu tương quan thuận, khá chặt với phân độ suy tim theo NYHA với r = 0,67; p = < 0,0001. Nồng độ NT-proBNP nhóm đợt cấp suy tim mạn cao hơn nồng độ NT-proBNP nhóm suy tim mạn có ý nghĩa thống kê với p = 0,01.

Tương quan thuận, yếu giữa nồng độ NT-proBNP máu với tuổi và giới với r = 0,3; p = 0,01 ở nhóm bệnh nhân giai đoạn A.

Chưa thấy có sự tương quan giữa nồng độ NT-proBNP máu với: chỉ số khối cơ thể, độ lọc cầu thận (với Clcre > 30 ml/ph/1,73 m2), dung tích hồng cầu (với Hct > 30%), trong  cả bốn nhĩm giai đoạn ABCD, với tuổi và giới ở  3 nhóm B, C và D, rung nhĩ trong nhóm suy tim.

KIẾN NGHỊ

1. Những BN có TCLS suy tim XN NT-proBNP là cần thiết góp phần xác định chẩn đoán, đánh giá mức độ nặng cho BN.

2. Ở những cơ sở làm được XN NT-proBNP và BN có điều kiện kinh tế nên đưa XN NT-proBNP máu vào quy trình XN cho BN khoa tim mạch.

BN nguy cơ suy tim GĐ A, B nếu được làm NT-proBNP sẽ giúp ghi nhận “mốc” giá trị NT-proBNP là cơ sở để so sánh với NT-proBNP sau này, góp phần theo dõi, đánh giá sự tiến triển của suy tim cho BN.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thạch Nguyễn (2000), “Suy tim”, Các vấn đề phức tạp trong tim mạch, TP.HCM, Nxb Y Học, tr: 96-111.

2. Đặng Vạn Phước, Châu Ngọc Hoa (2001), “Dịch tễ học suy tim”, Suy tim trong thực hành lâm sàng, TP.HCM, Nxb Y Học, tr: 8-9.

3. Phạm Nguyễn Vinh, Nguyễn Mạnh Phan, Huỳnh Văn Minh, và cộng sự (2008), “Khuyến cáo 2008 của Hội Tim mạch học Việt Nam về chẩn đoán, điều trị Suy tim”, Khuyến cáo về các bệnh lý Tim mạch và chuyển hóa giai đoạn 2008-2012, TP.HCM, Nxb Y Học, tr: 438-475.

4. Abdulle A M (2007), “Plasma N terminal pro-brain natriuretic peptide levels and its determinants in a multi-ethnic population”, Journal of Human Hypertension, (21), pp: 647-653.

5. Alan HB Wu, Smith Andrew (2004), “Biological variation of the natriuretic peptides and their role in monitoring patients with heart failure”, The European Journal of Heart Failure, (6), pp: 355-358.

6. American Heart Association (2005), “Heart Disease and Stroke statistics 2005 update Dallas”, Texax, AHA 2005.

7. European Society of Cardiology (2008), “Guidelines for the diagnosis and treatment of acute and chronic heart failure”, Eur Heart J, pp: 2389-2433.

8. Fuat A, Murphy JJ, Hungin AP, et al (2006), “The diagnostic accuracy and utility of a B-type natriuretic peptide test in a community population of patients with suspected heart failure”, Br J Gen Pract, (56), pp: 327-333.

9. Gardner RS, Chong KS, Morton JJ, et al (2007), “A change in N-terminal pro-brain natriuretic peptide is predictive of outcome in patients with advanced heart failure”, Eur J Heart Fail, (9), pp: 266-271.

10. Green SM, Redmond P, Januzzi JL, Aleryani S (2007), “The impact of amino-terminal pro-brain natriuretic peptide testing on hospital length of stay and morbidity in patients with acute decompensated heart failure”, Arch Pathol Lab Med, (131), pp: 473-476.

11. Gustafsson F, Steensgaard-Hansen F, Badskjaer J, Poulsen AH (2005), “Diagnostic and prognostic performance of N-terminal ProBNP in primary care patients with suspected heart failure”, J Card Fail, (11), pp: S15-S20.

12. Januzzi JL, Camargo CA, Anwaruddin S, et al (2005), “The N-terminal pro-BNP investigation of dyspnea in the emergency department (PRIDE) study “, Am J Cardiol, (95), pp: 948-954.

13. Moe GW, Hoelett J, Januzzi JL, Zowall H (2007), “N-terminal pro-brain natriuretic peptide testing improves the management of patients with suspected acute heart failure: primary results of the canadain prospective randomized multicenter IMPROVE-CHF study”, Circulation, (115), pp: 3103-3110.

14. Omland T, De Lemos JA (2008), “Amino-terminal pro-B-type natriuretic peptides in stable and unstable ischemic heart disease”, Am J Cardiol, (101), pp: 61A-66A.

15. Serge Masson, Roberto Latini (2008), “NT-proBNP and prognosis in chronic heart failure. An International Consensus Statement Regarding NT-proBNP Testing: The International NT-proBNP Consensus Panel”, (101), pp: 56A-60A.