slogan

 
 

topbannerv1

TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG

TÓM TẮT

Mục tiêu: Sự ảnh hưởng của hình thái học lên chức năng tâm trương thất trái ở bệnh nhân bệnh cơ tim phì đại (BCTPĐ) chưa được tìm hiểu rõ ràng. Vì vậy, chúng tôi tiến hành xác định mối liên hệ giữa hình thái BCTPĐ và rối loạn chức năng tâm trương thất trái.

 

BS. Trần Vũ Minh Thư

PGS.TS. Phạm Nguyễn Vinh

 

Thiết kế nghiên cứu: Cắt ngang mô tả và phân tích.

Phương pháp và kết quả: 96 bệnh nhân BCTPĐ từ Bệnh viện tim Tâm Đức và Viện Tim Tp. HCM, thời gian từ tháng 12/2015 đến 11/2017, được đưa vào nghiên cứu. Tất cả bệnh nhân được làm siêu âm tim đánh giá hình thái học và chức năng tâm trương. Bệnh nhân được chia thành 5 nhóm: thất trái phì đại không đồng tâm, vách liên thất dạng sigmoid, thất trái dày đồng tâm, mỏm và không xác định. Mẫu nghiên cứu có 62 nam (64,6%); tuổi trung bình đưa vào nghiên cứu 51,3 ± 15,5. Thể thất trái phì đại không đồng tâm thường gặp nhất (72 bệnh nhân (75%). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ rối loạn chức năng tâm trương (p = 0,17), vận tốc sóng E’cũng như tỷ lệ E/E’ giữa các nhóm (p = 0,3). Không có nhóm nào có mối liên hệ với rối loạn chức năng tâm trương thất trái. Bề dày tối đa thành tim ≥ 26 mm có liên hệ với tỷ lệ E/E’ với OR = 12,9; KTC: 1,1 – 147 (p = 0,04) và có liên hệ với rối loạn chức năng tâm trương OR=4,2; KTC: 1,1 – 15,8 (p = 0,03).

Kết luận: Thể bệnh cơ tim phì đại ảnh hưởng như nhau lên chức năng tâm trương thất trái ở bệnh nhân BCTPĐ. Bề dày tối đa thành tim ≥ 26 mm có liên hệ với rối loạn chức năng tâm trương thất trái.

Từ khóa: rối loạn chức năng tâm trương, hình thái học, bệnh cơ tim phì đại.

SUMMARY

Objectives: The impacts of morphology on left ventricular diastolic function in hypertrophic cardiomyopathy (HCM) has been unknown. Hence, we sought to define the relationship between morphology and left ventricular diastolic dysfunction among patients with HCM and preserved systolic function.

Design: cross – sectional study.

Methods and Results: Databases from Cardiology Tam Duc Hospital and Hochiminh City Heart Institute comprising 96 HCM patients with normal systolic function were interrogated between 12/2015 to 11/2017. Echocardiography was indicated for evaluating morphology and left ventricular diastolic function. HCM morphology was classified as described in five groups (reverse, sigmoid, symmetric, apical and undefined). In the sample, there were 62 men (64.6%); the average age of 51,3 ± 15,5 years. Reverse morphology was most commonly observed (72 (75%). There is no difference significantly in the ratio diastolic dysfunction (p = 0,17), E’ velocity, E/E’ ratio (p = 0,3) between groups. There is no relationship between fives groups and left ventricular diastolic dysfunction. The maximal heart wall ≥ 26 mm correlates to E/E’ ratio (OR = 12,9; 95% CI: 1,1 – 147, p = 0,04), and to left ventricular diastolic dysfunction (OR=4,2; 95% CI: 1,1 – 15,8; p = 0,03).

Conclusions: Morphology pattern impacts on diastolic dysfunction at the similar degree in HCM. The maximal heart wall ≥ 26 mm correlates to diastolic dysfunction.

Key words: diastolic function, morphology, hypertrophic cardiomyopathy.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh cơ tim phì đại (BCTPĐ) là bệnh tim di truyền thường gặp, với tần suất ước tính 1:500 trong dân số chung [8]. Suy tim là một trong những hậu quả nặng nề của bệnh lý này. Ở giai đoạn chức năng tâm thu thất trái bảo tồn, rối loạn chức năng tâm trương có lẽ là cơ chế chính của tình trạng suy tim ở bệnh nhân BCTPĐ và bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Phì đại cơ tim, sẹo thay thế, xơ hóa mô kẽ, sự sắp xếp hỗn loạn của các sợi cơ tim làm ảnh hưởng đến tính đàn hồi của cơ tim. Tùy theo vị trí phì đại của thành tim, BCTPĐ được chia thành nhiều thể khác nhau như thất trái phì đại không đồng tâm, vách liên thất dạng sigmoid, phì đại đồng tâm, mỏm. Sự ảnh hưởng của hình thái học lên rối loạn chức năng tâm trương thất trái ở BCTPĐ chưa được hiểu biết đầy đủ. Vì vậy, chúng tôi tiến hành xác định mối liên hệ giữa hình thái học và rối loạn chức năng tâm trương thất trái ở bệnh nhân BCTPĐ.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang mô tả và phân tích

Đối tượng nghiên cứu:Các bệnh nhân đến khám tại khoa khám ngoại trú Bệnh viện tim Tâm Đức và Viện Tim TPHCM từ tháng 12/2015 đến 11/2017 thỏa mãn các điều kiện sau:

Tiêu chuẩn chọn bệnh

♦ Bệnh nhân được chẩn đoán BCTPĐ có tuổi ≥ 16 với bề dày tối đa thành thất trái ≥15 mm, không có các bệnh gây nghẽn đường ra thất trái khác (hẹp dưới van động mạch chủ, hẹp van động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ, u trong tim gây nghẽn đường ra thất trái).

♦ Phân xuất tống máu thất trái ≥ 50%.

Tiêu chuẩn loại trừ

♦ Bệnh nhân tăng huyết áp có tỷ lệ bề dày tối đa thành thất trái/bề dày thành sau thất trái < 1,3.

♦ Rung nhĩ.

♦ Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu.

Những bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu được giải thích và đồng ý ký vào “Phiếu thông tin nghiên cứu và giấy chấp thuận tham gia nghiên cứu”. Nghiên cứu đã được sự chấp thuận của hội đồng y đức Đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh

Các bước tiến hành nghiên cứu:

Thăm khám và ghi nhận dữ liệu vào bệnh án nghiên cứu.

Siêu âm tim qua thành ngực được đánh giá bởi 2 bác sĩ tim mạch khác nhau; siêu âm thứ nhất được siêu âm bởi bất kỳ bác sĩ nào, siêu âm thứ hai được thực hiện bởi bác sĩ có kinh nghiệm siêu âm trên 5 năm. Siêu âm tim được thực hiện trên máy siêu âm Philips HD7, XE11 với đầu dò siêu âm qua thành ngực S2-4.

Định nghĩa biến số

Dựa vào siêu âm tim, hình thái học của thất được chia thành các nhóm sau: Nhóm 1:Phì đại thất trái không đồng tâm, phì đại chủ yếu vách liên thất. Nhóm 2: Vách liên thất dạng sigmoid, thường gặp ở người lớn tuổi, phì đại phần đáy vách liên thất. Nhóm 3: phì đại đồng tâm. Nhóm 4: phì đại mỏm. Nhóm 5: phì đại thành tim không thuộc 4 nhóm trên[1].

Chúng tôi đo đường kính thất trái, bề dày vách liên thất và thành sau thất trái, đường kính nhĩ trái cuối tâm trương theo phương pháp M-mode và 2D ở mặt cắt cạnh ức trục dọc và mặt cắt cạnh ức trục ngang [7]. Đo phân xuất tống máu thất trái với phương pháp M-mode ở mặt cắt cạnh ức trục dọc, theo phương pháp đĩa ở mặt cắt bốn buồng và hai buồng từ mỏm nếu có rối loạn vận động vùng [7].

Chênh áp tối đa qua đường thoát thất trái:Được đo lúc nghỉ với Doppler xung hay Doppler liên tục ở mặt cắt ba buồng hay năm buồng từ mỏm. Chênh áp = 4V2, V là vận tốc tối đa qua buồng tống thất trái [10]

Nghẽn đường thoát thất trái: Chênh áp tối đa qua buồng tống thất trái ≥ 30 mmHg [2]

Mức độ hở van hai lá được đánh giá ở mặt cắt 4 buồng theo khuyến cáo của Hội siêu âm tim Hoa Kỳ [12].

Thể tích nhĩ trái được đo vào thì tâm thu ngay trước khi van hai lá mở, dùng phương pháp hai mặt cắt chiều dài – diện tích [7].

Vận tốc tối đa dòng máu qua van ba lá thì tâm thu được đo với Doppler liên tục ở mặt cắt 4 buồng từ mỏm [9].

Chúng tôi đo vận tốc tối đa tâm trương sớm của cơ tim ở vị trí bên của vòng van hai lá (E’ bên) và tỷ lệ vận tốc tâm trương sớm (E/E’) với siêu âm Doppler mô [9]. 

Rối loạn chức năng tâm trương thất trái:Phân độ rối loạn chức năng tâm trương theo khuyến cáo của Hội siêu âm tim Hoa Kỳ và Hội hình ảnh học tim mạch Châu Âu [9]. Những biến số được khuyên để đánh giá chức năng tâm trương cho bệnh nhân có BCTPĐ bao gồm  tỷ lệ E/E’ trung bình (> 14), chỉ số thể tích nhĩ trái  (> 34 ml/m2) và vận tốc tối đa dòng phụt hở van 3 lá đo bằng Doppler liên tục (> 2,8 m/s). Nếu có > 50% trong số các biến số trên đáp ứng các giá trị cắt, áp lực nhĩ trái tăng là rối loạn chức năng tâm trương giai đoạn II. Nếu <50%  các biến số trên đáp ứng các giá trị cắt, áp lực nhĩ trái bình thường là rối loạn chức năng tâm trương giai đoạn I. Những bệnh nhân bệnh tiến triển có rối loạn chức năng tâm trương độ III với  các đặc điểm tỷ lệ E/A dòng 2 lá > 2.5.

 

Xử lý số liệu

Số liệu thu thập được xử lý với phần mềm Stata 11.1. Chúng tôi dùng phép kiểm T – test để so sánh các đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu. Phép kiểm Chi-square, Fisher exact được áp dụng để tìm sự liên quan các đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu. Mô hình hồi qui logistic được áp dụng nhằm xác định mối liên hệ giữa hình thái học và rối loạn chức năng tâm trương. Kết quả phép kiểm định với giá trị p < 0,05 và độ tin cậy 95% được xem sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

KẾT QUẢ

Từ tháng 12/2015 đến 11/2017, chúng tôi tuyển chọn được 96 bệnh nhân BCTPĐ, đủ tiêu chuẩn chọn bệnh và thỏatiêu chí loại trừ, đưa vào nghiên cứu.

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu

Bảng 1: Đặc điểm nhân trắc học, lâm sàng và siêu âm tim của dân số nghiên cứu

 

Tất cả bệnh nhân BCTPĐ

(n = 96)

Nhân trắc học và lâm sàng

Tuổi chẩn đoán, năm

Tuổi đưa vào nghiên cứu, năm

Nam, n (%)

NYHA I, n (%)

NYHA II, n (%)

Bệnh lý đi kèm

Tăng huyết áp

Đái tháo đường típ 2

Bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ mạn tính

Siêu âm tim

VLT (mm)

Thành sau (mm)

Phân xuất tống máu thất trái, n (%)

Chỉ số nhĩ trái, ml/m2┼

Vận tốc sóng E, cm/s

Vận tốc sóng A, cm/s

E/A

Vận tốc sóng E’, cm/s

E/E’

Vận tốc dòng máu qua van ba lá, cm/s

Chênh áp tối đa qua BTTT lúc nghỉ ≥ 30 mmHg, n (%)

Không rối loạn chức năng tâm trương, n (%)

Rối loạn chức năng tâm trương, n (%)

Độ 1

Độ 2

      Độ 3

Hở van hai lá vừa – nặng, n(%)

 

48,3 ± 16,2

51,3 ± 15,5

62 (64,6)

52 (54,2)

44 (45,8)

 

40(41,7)

9(9,4)

4(4,2)

 

22,4 ± 4,6

13,5 ± 4,9

70,1 ± 8

35,7 ± 9

73,4 ± 27,6

72,5 ± 27,2

1,1 ± 0,5

8,7 ± 3,7

8,8 ± 3,5

218,9 ± 41,6

16(16,7)

33(34,4)

 

52(54,2)

4(4,2)

7(7,2)

30(31,2)

Trung bình ± SD; BTTT, buồng tống thất trái.

 

Những đặc điểm chính liên quan đến nhân trắc học, lâm sàng và siêu âm tim đã được tóm tắt trong bảng 1. Tuổi trung bình của bệnh nhân khi đưa vào nghiên cứu là 51,3 ± 15,5; tuổi chẩn đoán trung bình là 48,3 ± 16,2. Đa số bệnh nhân là nam với tỷ lệ 64% (62 bệnh nhân). Tất cả bệnh nhân có mức NYHA I-II. Nghẽn đường ra thất trái xảy ra ở 16 bệnh nhân (17%). Tăng huyết áp được phát hiện ở 40 bệnh nhân (42%) là bệnh lý đi kèm thường gặp hơn so với đái tháo đường típ 2 và bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ mạn tính.

Bề dày trung bình của thành tim là 22,4 ± 4,6 mm. Nghẽn đường ra thất trái lúc nghỉ gặp ở 16 bệnh nhân (17%). Phân xuất tống máu trung bình là 70,1±8. Khoảng 2/3 số bệnh nhân có rối loạn chức năng tâm trương; trong đó, rối loạn chức năng tâm trương độ 1 chiếm tỷ lệ cao nhất 54% (52 bệnh nhân). Có 30 bệnh nhân hở van hai lá mức độ từ vừa đến nặng (31%).

Đặc điểm chung của bệnh nhân được chia nhóm theo hình thái học

Bảng 2: Đặc điểm nhân trắc học, lâm sàng và siêu âm tim của các nhóm hình thái học

 

Nhóm 1

(n=72)

Nhóm 2

(n=2)

Nhóm 3

(n=1)

Nhóm 4

(n=16)

Nhóm 5

(n=5)

Nhân trắc học và lâm sàng

Tuổi chẩn đoán, năm

Tuổi đưa vào nghiên cứu, năm

Nam, n (%)

NYHA I, n (%)

NYHA II, n (%)

Siêu âm tim

VLT (mm)

Thành sau (mm)

Phân xuất tống máu thất trái, n (%)

Chỉ số nhĩ trái, ml/m2┼

Vận tốc sóng E, cm/s

Vận tốc sóng A, cm/s

E/A

Vận tốc sóng E’, cm/s

E/E’

Vận tốc dòng máu qua van ba lá, cm/s

Chênh áp tối đa qua BTTT

   lúc nghỉ ≥ 30 mmHg, n (%)

Không rối loạn CNTTr, n (%)

Rối loạn CNTTr, n (%)

Độ 1

Độ 2

Độ 3

Hở van hai lá vừa – nặng, n(%)

 

 

46,4±16,3

49,6±15,5

46(63,9)

52 (54,2)

44 (45,8)

 

22,5±4,6

11,7±3,3

70,1±8,4

35,8±8,6

74,6±8,4

70,1±27,3

1,2±0,6

8,4±3,4

9,1±3,6

221,7±43,1

12(16,7)

 

22(30,5)

 

40(55,6)

3(4,2)

7(9,7)

24(33,3)

 

60,5±7,8

59±5,7

1(50)

0(0)

2 (100)

 

24±2,8

13,9±3,3

65±14,1

60

61

116

0,5

7

8,7

255±7,1

2(100)

 

0(0)

 

1(50)

1(50)

0(0)

0(0)

 

59

39

1(100)

9(0)

1(100)

 

24

16

72

40

49

93

0,5

8,7±3,7

8,8±3,5

200±6,4

1(100)

 

0(0)

 

0(0)

0(0)

1(100)

0(0)

 

56±17,1

54,6±17,1

12(75)

13(81,2)

3(18,8)

 

20,6±3,6

20,5±4,4

69,5±6,9

32,6±8

74,1±21,6

76,5±19,1

1±0,4

10,8±4,8

10,8±4,8

7±2,6

1(6,3)

 

11(68,8)

 

5(31,2)

0(0)

0(0)

3(18,8)

 

54,4±8,8

53,2±8,3

2(40)

1(20)

4(80)

 

25,2±7,5

15,8±5,9

74,6±9,4

37,4±12,3

62,4±16,9

83,2±40,1

0,8±0,2

6±9,3

12,8±2,4

216±33,6

0(0)

 

0(0)

 

5(100)

0(0)

0(0)

2(40)

Trung bình ± SD; Chức năng tâm trươngCNTTr

 

Bảng 2 trình bày đặc điểm lâm sàng và siêu âm tim của 5 nhóm bệnh nhân được chia theo vị trí dày thành tim. Số bệnh nhân trong nhóm 1 là nhiều nhất so với các nhóm còn lại với 72 bệnh nhân. Tiếp theo là nhóm 4 với 16 bệnh nhân. Nhóm 3 và 2 có ít bệnh nhân nhất (1 và 2 bệnh nhân).

Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi đưa vào nghiên cứu và tuổi chẩn đoán bệnh giữa các nhóm (p = 0,4 và p = 0,2). Ngoài ra, độ dày thành tim cũng không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm (p = 0,3). Tuy nhiên, nhóm 1 với thể thất trái dày không đồng tâm gây nghẽn đường ra thất trái nhiều hơn các nhóm còn lại (p = 0,001).

Chức năng tâm trương của các nhóm

Các chỉ số liên quan đến chức năng tâm trương của các nhóm được thể hiện trong bảng 2. Kiểu hạn chế chỉ gặp ở nhóm 1 với 7 bệnh nhân (9,7%). Không khác nhau về bề dày thành tim giữa các nhóm (p = 0,3). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về vận tốc sóng E’cũng như tỷ lệ E/E’ giữa các nhóm (p = 0,3). Chỉ số nhĩ trái của bệnh nhân nhóm 1 cao hơn bệnh nhân nhóm 4 (p = 0,04). Không có sự khác biệt về tỷ lệ hở van hai lá vừa – nặng giữa các nhóm  (p = 0,11). Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ rối loạn chức năng tâm trương giữa các nhóm (p = 0,17).

Mối liên quan giữa rối loạn chức năng tâm trương và hình thái học

Bảng 3: Các yếu tố liên quan đến rối loạn chức năng tâm trương

 

E/E’ > 14

Chỉ số nhĩ trái

> 34 ml/m2

Vận tốc tối đa qua van ba lá

> 2,8 m/s

Rối loạn chức năng tâm trương*

 

OR

(KTC 95%)

Gía

 trị p

Gía trị p

Gía trị p

OR

(KTC 95%)

Gía

 trị p

Bề dày thành tim tối đa

      ≥ 26 mm

Nghẽn đường ra thất trái

Hở van hai lá vừa-nặng

Nhóm 1

Nhóm 2

Nhóm 3

Nhóm 4

Nhóm 5

12,9

(1,1 – 147)

0,04

0,6

0,8

0,45

0,08

0,3

0,3

0,8

4,2

(1,1 – 15,8)

 

 

 

0,03

 

0,4

0,7

0,17

0,2

1

0,11

0,4

OR, tỉ số số chênh (odd ratio); KTC, khoảng tin cậy.

*Đánh giá theo khuyến cáo của hội Siêu âm tim Hoa Kỳ 2016 (3).

 

Bảng 3 trình bày mối liên quan giữa các đặc điểm siêu âm tim thuộc về hình thái học với rối loạn chức năng tâm trương thất trái. Theo khuyến cáo của hội Siêu âm tim Hoa Kỳ, đánh giá rối loạn chức năng tâm trương thất trái ở bệnh nhân BCTPĐ dựa vào 3 yếu tố E/E’ > 14, chỉ số nhĩ trái > 34 ml/m2, vận tốc tối đa qua van ba lá > 2,8 m/s. Từ việc tổng hợp 3 yếu tố trên, rối loạn chức năng tâm trương được phân độ 1,2 và 3 (3).

Trước tiên, chúng tôi xét mối liên hệ giữa bề dày tối đa thành tim ≥ 26 mm, nghẽn đường ra thất trái, hở van hai lá vừa – nặng với từng yếu tố E/E’ > 14, chỉ số nhĩ trái > 34 ml/m2, vận tốc tối đa qua van ba lá > 2,8 m/s. Kết quả cho thấy, chỉ có bề dày tối đa thành tim ≥ 26 mm có liên hệ với tỷ lệ E/E’ với OR = 12,9; KTC: 1,1 – 147 (p = 0,04).

Tiếp theo, chúng tôi xác định mối liên hệ giữa nhóm 1, nhóm 4, bề dày tối đa thành tim ≥ 26 mm, nghẽn đường ra thất trái, hở van hai lá vừa – nặng với rối loạn chức năng tâm trương thất trái theo khuyến cáo của hội Siêu âm tim Hoa Kỳ 2016 (3). Kết quả thể hiện không có nhóm nào có mối liên hệ với rối loạn chức năng tâm trương thất trái. Nghẽn đường ra thất trái và hở van hai lá vừa – nặng cũng không có mối liên hệ với rối loạn chức năng tâm trương. Chỉ có bề dày tối đa thành tim ≥ 26 mm có liên hệ với rối loạn chức năng tâm trương OR=4,2; KTC: 1,1 – 15,8; p = 0,03.

BÀN LUẬN

Nghiên cứu của chúng tôi có 71 bệnh nhân rối loạn chức năng tâm trương (68,3%). Trong đó, rối loạn chức năng tâm trương mức độ nhẹ và vừa chiếm ưu thế 57,7%. Nghiên cứu của Coppini và cs [2] trên 230 bệnh nhân cho thấy có 162 bệnh nhân rối loạn chức năng tâm trương (70,4%), rối loạn chức năng tâm trương mức độ nhẹ và vừa là 53%. Tỷ lệ rối loạn chức năng tâm trương trong nghiên cứu của chúng tôi tương tự như trong nghiên cứu của Coppini và cs [2]. Chúng tôi cho rằng điều này phù hợp với diễn tiến tự nhiên của BCTPĐ - rối loạn chức năng tâm trương thường xuất hiện sớm ở giai đoạn thành tim đã dày, chưa có biến chứng và giai đoạn này được tìm thấy ở ¾ số bệnh nhân BCTPĐ.

Thể thất trái dày không đồng tâm thường gặp nhất trong nghiên cứu của chúng tôi (74%) cũng như trong nghiên cứu của Sheikh và cs [11] (45,6%), Kim và cs [6] (64%). Thể mỏm hiện diện trong nghiên cứu của chúng tôi với tỷ lệ 15,4%, đứng hàng thứ hai sau thể thất trái dày không đồng tâm. Điều này được tìm thấy tương tự trong nghiên cứu của hai tác giả trên (15,1% và 29,5%).

Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ rối loạn chức năng tâm trương giữa các nhóm (p = 0,17). Ngoài ra, không có nhóm nào có mối liên quan với rối loạn chức năng tâm trương (bảng 3). Điều này cho thấy thể bệnh cơ tim phì đại ảnh hưởng như nhau đến chức năng tâm trương thất trái ở người BCTPĐ. Chúng tôi tìm thấy điều tương tự trong nghiên cứu của Finocchiaro G. và cộng sự [4].

Bên cạnh việc xem xét mối liên hệ giữa thể bệnh cơ tim phì đại với rối loạn chức năng tâm trương, chúng tôi còn đánh giá mối liên hệ giữa một số yếu tố khác liên quan đến hình thái học khác như bề dày tối đa thành tim ≥ 26 mm, nghẽn đường ra thất trái, hở van hai lá vừa – nặng với rối loạn chức năng tâm trương thất trái. Chúng tôi tìm thấy chỉ có bề dày tối đa thành tim ≥ 26 mm có mối liên hệ với rối loạn chức năng tâm trương. Trong ba chỉ số dùng để đánh giá rối loạn chức năng tâm trương trong BCTPĐ, chỉ số E/E’ được phát hiện có mối liên hệ với bề dày tối đa thành tim ≥ 26 mm. Chúng tôi cho rằng điều này gợi ý, chỉ số E/E’ là chỉ số đóng vai trò quan trọng trong đánh giá rối loạn chức năng tâm trương ở bệnh nhân BCTPĐ. Chúng tôi nhận thấy điều tương tự trong nghiên cứu của Geske JB. và cs [5]. Geske JB. và cs trong nghiên cứu trên 100 bệnh nhân BCTPĐ có triệu chứng đã nêu ra kết luận siêu âm Doppler giúp ước tính áp lực đổ đầy thất trái và vận tốc vòng van hai lá có mối liên hệ với áp lực nhĩ trái.

Nghẽn đường ra thất trái và hở van hai lá vừa – nặng trong nghiên cứu của chúng tôi không có mối liên hệ đến rối loạn chức năng tâm trương hay bất cứ chỉ số siêu âm nào trong ba chỉ số được đề cập ở trên. Phát hiện trong nghiên cứu của chúng tôi khác với kết luận của Finocchiaro G. và cộng sự [4]. Finocchiaro G tiến hành nghiên cứu trên 383 bệnh nhân BCTPĐ và nhận thấy nghẽn đường ra thất trái, hở van hai lá có liên quan đến hai trong ba chỉ số E/E’ >15, thể tích nhĩ trái > 40ml/m2. Chúng tôi cho rằng sự khác biệt trong cách đánh định giới hạn giá trị bất thường của các chỉ số như E/E’ > 15 và thể tích nhĩ trái > 40ml/m2 trong nghiên cứu của Finocchiaro G. và cộng sự thay vì >14 và >34 ml/m2 như trong nghiên cứu của chúng tôi. Ngoài ra, sự khác biệt về cỡ mẫu giữa các nghiên cứu cũng có thể cho kết quả khác nhau.

Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu của chúng tôi có một số hạn chế. Nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu cắt ngang nên khó đưa ra yếu tố tiên lượng liên quan đến rối loạn chức năng tâm trương như nghiên cứu đoàn hệ. Chúng tôi cho rằng cần bổ sung khảo sát phổ tĩnh mạch phổi để việc đánh giá chức năng tâm trương thất trái hoàn thiện hơn.

KẾT LUẬN

Đánh giá chức năng tâm trương ở bệnh nhân BCTPĐ được thực hiện dễ dàng với siêu âm tim. Các thể bệnh cơ tim phì đại ảnh hưởng như nhau đến rối loạn chức năng tâm trương thât trái. Bế dày tối đa thành thất trái từ 26 mm trở lên có mối liên hệ với rối loạn chức năng tâm trương thất trái ở bệnh nhân BCTPĐ.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Binder J, Ommen SR, Gersh BJ, et al. Echocardiography-guided genetic testing in hypertrophic cardiomyopathy: septal morphological features predict the presence of myofilament mutations. Mayo Clin Proc 2006;81:459–67.
2.    Coppini, R., Ho, C.Y., Ashley, E. et al (2014). Clinical Phenotype and Outcome of Hypertrophic Cardiomyopathy Associated With Thin-Filament Gene Mutations. J Am Coll Cardiol, 64: 2589–600.
3.    Elliott, P. M., Anastasakis, A., Borger, M. A., et al (2014). ESC Guidelines on diagnosis and management of hypertrophic cardiomyopathy The Task Force for the Diagnosis and Management of Hypertrophic Cardiomyopathy of the European Society of Cardiology (ESC). European Heart Journal. doi:10.1093/eurheartj/ehu284.
4.    Finocchiaro G, Haddad F, Pavlovic A, et al. How does morphology impact on diastolic function in hypertrophic cardiomyopathy? A single centre experience BMJ Open 2014;4:e004814. doi:10.1136/bmjopen-2014-004814.
5.    Geske JB, Sorajja P, Nishimura RA, et al. Evaluation of left ventricular filling pressures by Doppler echocardiography in patients with hypertrophic cardiomyopathy: correlation with direct left atrial pressure measurement at cardiac catheterization. Circulation 2007;116:2702–8.
6.    Kim, S. H, , Oh, Y. S., Nam, G. B., et al (2015). Morphological and Electrical Characteristics in Patient with Hypertrophic Cardiomyopathy: Quantitative Analysis of 864 Korean Cohort. Yonsei Med J. Nov;56(6):1515-1521.
7.    Lang RM, Bierig M, Devereux RB, et al. Recommendations for chamber quantification: a report from the American Society of Echocardiographys Guidelines and Standards Committee and the Chamber Quantification Writing Group, developed in conjunction with the European Association of Echocardiography, a branch of the European Society of Cardiology. J Am Soc Echocardiogr 2005;18:1440–63.
8.    Maron, B. J., Maron, M. S. (2013). Hypertrophic cardiomyopathy. Lancet, 381: 242–255.
9.    Nagueh, S. F., Smiseth, O. A., Appleton, C. P. et al (2016). Recommendations for the Evaluation of Left Ventricular Diastolic Function by Echocardiography: An Update from the American Society of Echocardiography and the European Association of Cardiovascular Imaging. J Am Soc Echocardiogr, 29: 277-314.
10.    O'Mahony, C., Jichi, F., Pavlou, M., et al (2014). Hypertrophic Cardiomyopathy Outcomes. A novel clinical risk prediction model for sudden cardiac death in hypertrophic cardiomyopathy (HCM risk-SCD). Eur. Heart J, 35: 2010–2020.
11.    Sheikh, N., Michael Papadakis, M., Panoulas, V. F. et al. (2016). Comparison of hypertrophic cardiomyopathy in Afro-Caribbean versus white patients in the UK. Heart, 102(22): 1797-1804.
12.    Zoghbi WA, Enriquez-Sarano M, Foster E, et al. Recommendations for evaluation of the severity of native valvular regurgitation with two-dimensional and Doppler echocardiography. J Am Soc Echocardiogr 2003;16:777–802.