slogan

 
 

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ TIM MẠCH HỌC

Trong phân loại huyết áp ở người trưởng thành, báo cáo JNC 7 (2003) của Hoa Kỳ có một số thay đổi so với báo cáo JNC 6 (1997). Một trong số các thay đổi đó là việc gộp chung hai giai đoạn 2 (huyết áp 160-179/100-109 mm Hg) và 3 (huyết áp ³ 180/110 mm Hg)

Đọc tiếp...

Thuốc chống kết dính tiểu cầu được nhiều nghiên cứu chứng minh là giúp làm giảm có ý nghĩa biến cố tim mạch trên những bệnh nhân bị bệnh lý xơ vữa động mạch, hội chứng vành cấp, sau đặt stent động mạch vành, động mạch  ngoại vi.

Đọc tiếp...

Hiện tượng vỡ mảng xơ vữa trong động mạch vành có thể xảy ra một cách tự phát (trong hội chứng mạch vành cấp) hoặc do kết quả của việc can thiệp mạch vành qua da (có hoặc không kèm đặt stent). Khi mảng xơ vữa bị vỡ, tiểu cầu được hoạt hóa

Đọc tiếp...

Trong bệnh lý xơ vữa động mạch, biến chứng tạo huyết khối gây tắc mạch có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng rất nặng nề. Ngay cả sau khi nong mạch máu có đặt stent, thì ngăn ngừa tạo huyết khối trong stent vẫn đóng vai trò rất quan trọng.

Đọc tiếp...

JNC VII định nghĩa tăng huyết áp (THA) là khi HA > 140/80 mmHg (1). Theo định nghĩa này, sẽ có khoảng một tỉ người trên thế giới bị THA và có khoảng ¼ số bệnh  nhân (BN) nhập viện có THA. Ý nghĩa lâm sàng của THA thay đổi từ không  quan trọng

 

Đọc tiếp...

Hướng dẫn điều trị tăng huyết áp của các hội chuyên khoa luôn nhấn mạnh là tăng huyết áp không được kiểm soát tốt làm tăng nguy cơ bị các biến cố mạch vành nặng và đột quị 1,2. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu dịch tễ làm cơ sở để đưa ra kết luận

 

Đọc tiếp...

Bệnh thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (venous thromboembolic disease) có 2 biểu hiện lâm sàng là huyết khối tĩnh mạch sâu (deep venous thrombosis) và thuyên tắc động mạch phổi (pulmonary embolism). Gọi huyết khối tĩnh mạch

Đọc tiếp...

Trong số những người bệnh tim mạch điều trị nội trú, có một số đối tượng cần được theo dõi, chăm sóc rất tích cực tại một khoa hồi sức tim mạch. Các đối tượng này gồm chủ yếu là những bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp, ngoài ra còn có những người bị các rối loạn nhịp tim nguy hiểm

Đọc tiếp...

Cách đây gần 18 năm, trong một bài đăng trên báo “American Heart Journal”, hai tác giả Dzau và Braunwald lần đầu tiên đề cập đến một khái niệm là “chuỗi bệnh lý tim mạch” (the cardiovascular continuum) 1.

Đọc tiếp...

Từ giữa thập niên 1990 lợi ích của việc phòng ngừa tiên phát bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch bằng thuốc nhóm statin đã được chứng minh một cách hết sức thuyết phục bởi 2 thử nghiệm lâm sàng là WOSCOPS (West of Scotland Coronary Prevention Study) và AFCAPS/TexCAPS (Air Force/Texas Coronary Atherosclerosis Prevention Study). Trong nghiên cứu WOSCOPS, 6595 người đàn ông trung niên (tuổi trung bình 55,2) không có tiền sử nhồi máu cơ tim và có LDL trong khoảng 155-232 mg/dl (trung bình 192 mg/dl)

Đọc tiếp...

Thuốc chẹn bêta là một trong các thuốc phổ biến trong phòng ngừa và điều trị bệnh tim mạch. Chỉ riêng tại Hoa Kỳ, năm 2005, có tới 44 triệu toa thuốc có chẹn bêta (atenolol) (1), hầu hết được dùng điều trị bệnh tăng huyết áp (THA). Khuyến cáo của Hội Tim Mạch Châu Âu năm 2005 cũng nêu một số chẹn bêta có hiệu quả kéo dài đời sống trong điều trị suy tim (2). Chẹn bêta là thuốc thường quy trong điều trị bệnh Động mạch vành mạn và hội chứng ĐMV cấp. Hiệu quả của chẹn bêta giúp kéo dài thời gian tâm trương trong điều trị nội khoa hẹp van hai lá cũng được thường xuyên sử dụng.

Đọc tiếp...

Những thay đổi gần đây về mặt dịch tễ học của viêm nội tâm mạc nhiễm trùng
Hiện nay y giới đang chứng kiến một sự thay đổi diện mạo của viêm nội tâm mạc nhiễm trùng (VNTMNT) tại các quốc gia Âu Mỹ. Cho đến cuối thập niên 1970, bệnh van tim hậu thấp và bệnh tim bẩm sinh tím là 2 nhóm bệnh tim nền thường gặp nhất ở những bệnh nhân VNTMNT tại các quốc gia này.

Đọc tiếp...