slogan

 
 

TỔNG HỢP TỪ NGHIÊN CỨU TRÊN LÂM SÀNG

TÓM TẮT

Cơ sở:Nhồi máu cơ tim là tình trạng khi cómột lượng bất kỳ cơ tim bị hoại tử, do hậu quả của thiếu máu cơ tim kéo dài. Nguyên nhân chủ yếu của nhồi máu cơ tim (NMCT) là do xơ vữa động mạch gây tắc hoặc hẹp một hay nhiều nhánh của động mạch vành (ĐMV) nuôi dưỡng vùng đó.

 

ThS. Châu Văn Vinh1, PGS. TS Hồ Thượng Dũng1, PGS.TS Đoàn Văn Đệ2

1 Bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh; 2 Học viện Quân Y

 

Mục tiêu: Xác định một số đặc điểm lâm sàng,cận lâm sàng ở bệnh nhân NMCT cấp thành dướivà phân tầng nguy cơ theo thang điểm TIMI, thang điểm Mayo Clinic.

Phương pháp:Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu và tiến cứu, kết hợp nghiên cứu bệnh chứng trong nghiên cứu phân tích và mô tả mối tương quan, thu thập các thông tin định tính và định lượng.

Kết quả: NMCT cấp thành dưới (NMTD) đơn thuần chiếm tỉ lệ là 56,1%, nhồi máu thất phải (NMTP) là 43,9%. Tỷ lệ nam giới cao hơn nữ giới (71,9% so với 28,1%), tuổi trung bình của bệnh nhân là 67,5 ± 13,7. Tăng huyết áp (THA) chiếm 66,7%, rối loạn lipid máu (RLLPM) là 42,1%, hút thuốc lá là 38,6%, đái tháo đường là 28,9%, béo phì là 21,9%. Triệu chứng đau ngực là 88,6%, vã mồ hôi 86,0%, khó thở 83,2%, buồn nôn/nôn 63,2%. Đau thắt ngực điển hình 76.3%, đau thắt ngực không điển hình 12,3% và có 11,4% bệnh nhân không đau ngực. Nhóm NMTP nhập viện có Killip IV chiếm tỉ lệ cao hơn (44.0% so với 12,5%) so với nhóm NMTD. Tỉ lệ rối loạn nhịp là 70,2%, suy tim 46,5%, blốcnhĩ thất 39,5%, (Bloc AV độ III 24,6%), nhịp độ nối 13,2%, rung thất 7,9%, sốc tim 5,3%, có 40% nhóm NMTP vào viện có Block AV III, bệnh mạch vành 3 nhánh chiếm tỉ lệ cao là 41,2%. Các típ tổn thương nhánh RCA là típ B2 là 36,7%, típ C 32,2%, típ B1 27,8%, típ A 3,3%. Nhóm NMTP tổn thương đoạn gần RCA cao hơn nhóm NMTD (44,0% so với 10,9%).Tỉ lệ tử vong trong 24 giờ đầu là 0,9%, tử vong thời gian nằm viện là 4,4%, Nhóm NMTP có thang điểm TIMI cao hơn nhiều so với nhóm NMTD (52,0% so với 17,0%). Tất cả bệnh nhân tử vong có thang điểm Mayo clinic rất cao ≥15 điểm.

Kết luận: Nhồi máu cơ tim thất phải có triệu chứng lâm sàng và có nguy cơ loạn nhịp tim, dẫn truyền và sốc tim, tỉ lệ tử vong cao hơn nhồi máu cơ tim thành dưới đơn thuần. Cần can thiệp tái thông động mạch vành sớm giúp giảm tỉ lệ tử vong.

Từ khóa: Nhồi máu có tim cấp thành dưới đơn thuần (NMTD), NMCT cấp thành dưới có kèm thất phải (NMTP), ĐMV (động mạch vành)

 

CLINICAL AND LABORATORY CHARACTERISTICS AND CORONARY ARTERY LESIONS IN THE PATIENTS WITH ACUTE INFERIOR ST-SEGMENT ELEVATION MYOCARDIAL INFARCTION AT THONG NHAT HOSPITAL

 

Chau Van Vinh, Ho Thuong Dung, Doan Van De

Abstracts

Background:Myocardial infarction is a condition that there is an amount of any necrotic cardiac muscle, as a result of prolonged myocardial ischaemia. The main cause of myocardial infarction (MI) is caused by atherosclerosis that blocks or narrows one or more branches of the coronary artery that supply to the myocardial territories.

OBJECTIVE:To identify some clinical and subclinical features in patients with inferior MI and risk stratification on a TIMI and Mayo Clinic score.

METHODS:The design of the study was a descriptive, cross-sectional study, prospective and retrospective, combining case-control studies in analytical and qualitative studies, and qualitative and quantitative data collection.

Results:Inferior MI was 56.1% and right ventricular infarction was 43.9%, respectively. The proportion of men is higher than women (71.9% versus 28.1%), the average age of the patient is 67.5 ± 13.7. Hypertension accounts for 66.7%, dyslipidemia was 42.1%, smoking was 38.6%, diabetes mellitus was 28.9%, obesity was 21.9%. Symptoms of chest pain were 88.6%, sweating 86.0%, dyspnea 83.2%, nausea or vomiting 63.2%. Typical angina was 76.3%, atypical angina was 12.3%, and 11.4% had no chest pain. Inpatient morbidity and mortality in the right ventricular infarction group were higher (44.0% vs. 12.5%) compared to those in the inferior MI. The rate of arrhythmias was 70.2%, heart failure 46.5%, atrioventricular block 39.5%, (Third-degree atrioventricular block was 24.6%), junctional rhythm 13.2%, ventricular fibrillation 7.9 %, cardiac shock 5.3%, 40% right ventricular infarction hadIII atrioventricular block, triple vessels disease occupied a high rate of 41.2%. The B2, C, B1 and A type of RCA were 36.7%, 32.2%, 27.8%, and 3%, respectively. The prevalence of proximal segment lesion of the RCA in right ventricular infarction was higher than that of the inferior MI group (44.0% vs. 10.9%), the mortality rate in the first 24 hours was 0.9%, in-hospital death was 4.4% The right ventricular infarction group had a much higher TIMI score than the inferior MI group (52.0% vs 17.0%). All patients with mortality with a Mayo clinic score ≥15.

Conclusion:Right myocardial infarction has clinical symptoms and risk of arrhythmias, cardiac conduction and shock, and mortality higher than inferior myocardial infarction. Emergency revascularization therapy was to reduce mortality.

Key words:inferior acute myocardial infarction, right ventricular myocardial infarction, coronary artery disease.

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hằng năm ở Mỹ có hơn 1 triệu người nhập viện vì NMCT cấp và có khoảng hơn 300,000 người tử vong trước khi nhập viện[5], [17]. Tỉ lệ tử vong do NMCT cấp chiếm 7% trong một bệnh viện có đơn vị can thiệp ĐMV, và 33% trong một bệnh viện không có đơn vị can thiệp mạch vành [7].

Theo thống kê của Viện Tim Mạch Quốc Gia Việt Nam, trong 10 năm (từ 1980 đến 1990) có 108 trường hợp nhồi máu cơ tim, tử vong 11%, nhưng chỉ trong vòng 5 năm (từ 1/1991 đến 10/1995) đã có 82 trường hợp vào viện vì NMCT cấp [13], [14].

Theo thống kê của sở y tế Tp. Hồ Chí Minh thì chỉ riêng năm 2000 đã có 3222 bệnh nhân bị NMCT và đã tử vong 122 trường hợp. Trong 6 tháng đầu năm 2001, đã có 1725 bệnh nhân NMCT [1].

Tại Bv. Thống Nhất Tp. Hồ Chí Minh: từ năm 1986 – 1996 (10 năm) có 149 Bn NMCT cấp, tử vong: 18,6% [11], từ năm (07/2004-06/2006) có 50 Bn NMCT cấp ST chênh lên, tỉ lệ tử vong 6% [3], theo một nghiên cứu từ năm (01/2009 - 07/2012) có 469 bệnh nhân NMCT cấp, trong đó có 226 NMCT cấp ST chênh lên, chiếm 48,2%, 241 bệnh nhân NMCT không ST chênh lên chiếm 51,6%, tỷ lệ tử vong chung là 12%, ở nhóm bệnh nhân ≥65 tuổi chiếm tỉ lệ tử vong 23,5% [12].

NMCT cấp vẫn là một vấn đề sức khỏe cộng đồng được quan tâm ở các nước phát triển và ngày càng trở nên thời sự hơn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.

Can thiệp động mạch vành qua da (PCI) được Andreas Grüntzig thực hiện lần đầu tiên năm 1977 tại Zurich (Thụy Sĩ), cho đến nay đã có nhiều bước tiến bộ vượt bậc mang lại hiệu quả cao trong điều trị bệnh mạch vành, tỉ lệ thành công chung của nong mạch vành bằng bóng qua da trong can thiệp cấp cứu thì đầu khoảng 97%.

Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, tổn thương ĐMV ở bệnh nhân NMCT cấp thành dưới” nhằm 2 mục tiêu sau:

1.      Xác định một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân NMCT cấp thành dưới.

2.      Phân tầng nguy cơ theo thang điểm TIMI, thang điểm Mayo Clinic.

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân nhập viện tại Bv. Thống Nhất thời gian từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 12.2016  được chẩn đoán NMCT cấp ST chênh lên theo tiêu chuẩn chẩn đoán. Sau đó chỉ chọn những bệnh nhân chẩn đoán NMCT cấp thành dưới bao gồm NMTD và NMTP.

Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu và tiến cứu, kết hợp nghiên cứu bệnh chứng trong nghiên cứu phân tích và mô tả mối tương quan, thu thập các thông tin định tính và định lượng.

Tiêu chuẩn chọn mẫu: Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán xác định NMCT cấp thành dưới đồng ý tham gia nghiên cứu có chụp ĐMV và can thiệp hoặc không can thiệp đặt stent ĐMV.

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân không phải NMCT cấp: Các bệnh nhân ghi ECG nghi ngờ viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim, thuyên tắc phổi……

Bệnh nhân NMCT cấp thành dưới vào viện từ chối chụp đm vành và can thiệp, chỉ điều trị nội khoa.

Bệnh nhân tử vong tại khoa cấp cứu nghi ngờ bị nhồi máu cơ tim cấp.

Được điều trị tái tưới máu bằng phẫu thuật bắc cầu động mạch vành.

NMCT cấp có cơn đau ngực kiểu Prinzmetal (chụp ĐMV không có tổn thương).

Phương pháp thống kê

Nhập liệu bằng phần mềm SPSS và xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS 23.0 for windows và phần mền Microsoft Office Excel.

Các dữ liệu trong nghiên cứu được trình bày dưới dạng giá trị trung bình (X), độ lệch chuẩn (SD), giá trị trung vị (Median).

Các dữ liệu trong nghiên cứu được trình bày dưới dạng trung bình ± độlệch chuẩn. So sánh trung bình (biến số định lượng) giữa các nhóm bằng phép kiểm T- test và so sánh 2 tỷ lệ (biến số định tính) bằng chi bình phương (x2), khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,05 với độ tin cậy 95%.

Chẩn đoán NMCT cấp thành dưới: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) chẩn đoán xác định khi có ít nhất 2 trong 3 tiêu chuẩn sau [8], [18]

-          Lâm sàng có cơn đau thắt ngực (điển hình hoặc không điển hình) kéo dài hơn 30 phút, không đáp ứng với thuốc giãn mạch vành.

-          Thay đổi của đoạn ST (ST chênh lên và T đảo, ST chênh lên ít nhất 1mm hoặc ST chênh xuống), có thể kèm hoặc không kèm theo sự xuất hiện sóng Q hoại tử trên ECG ở ít nhất 2 trong 3 chuyển đạo DII, DIII, aVF.

-          Tăng các men tim trong huyết thanh (CK, CK - MB, Troponin).

Chẩn đoán nhồi máu cơ tim thất phải[5], [15]

Định vị NMCT vùng dưới khi ST chênh lên ≥ 1mm ở DII, DIII. aVF. 

Xác định có NMTP khi ST chênh lên ≥ 1mm ở V4R hoặc V3R, V4R.

 

KẾT QUẢ

Nhóm bệnh nhân NMCT cấp thành dưới đơn thuần (NMTD): 64 bệnh nhân (56,1%), nhóm bệnh nhân NMCT cấp thành dưới kèm nhồi máu thất phải (NMTP): 50 bệnh nhân (43,9%).

Phân bố theo giới: tỷ lệ bệnh nhân nam (71,9%) nhiều hơn bệnh nhân nữ (28,1%). Tỷ lệ nam/nữ là 2,5 lần.

Phân bố theo tuổi: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 67,5 ± 13,7; tuổi trung bình ở giới nam là 65,3±13,6 thấp hơn so với giới nữ là 73,0± 12,4. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, với p < 0,05.

Bảng 1. Các yếu tố nguy cơ tim mạch

YTNC

Nam

(n=82)

Nữ

(n=32)

Tổngsố (n=114)

P

HTL, n (%)

43 (52,4)

1 (3,1)

44 (38,6)

0,000

THA, n (%)

50 (61,0)

26 (81,3)

76 (66,7)

0,039

ĐTĐ, n (%)

20 (24,4)

13 (40,6)

33(28,9)

0,086

RLLM, n (%)

38 (46,3)

10 (31,3)

48 (42,1)

0,143

Béo phì, n (%)

(BMI ≥25)

20 (24,4)

5 (15,6)

25 (21,9)

0,309

 

Nhận xét: THA chiếm tỉ lệ cao nhất là 66,7%, trong đó nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới có ý nghĩa thống kê (81,3% so với 61,0%), với p = 0,039. Tỷ lệ bệnh nhân hút thuốc lá là 38,6%, nam giới chiếm 52,4%, chỉ có một bệnh nhân nữ  HTL lá chiếm (3,1%) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,000.

Nhóm NMTD, Tỉ lệ nam giới cao hơn nữ giới gấp 4,3 lần và tỷ lệ này là 1,5 lần ở nhóm NMTP; nhóm NMTP ở nhóm bn  ≥65t nhiều hơn nhóm bn <65t (66,0% so với 34,0%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p <0,05.

Bảng 2. Kiểu đau ngực khi vào viện

Kiểu đau ngực (ĐN)

NMTD

(n=64)

NMTP

(n=50)

Tổng số

(n=114)

ĐN điển hình, n (%)

48 (75,0)

39 (78,0)

87 (76,3)

ĐN không điển hình, n (%)

9 (14,1)

5 (10,0)

14 (12,3)

Không đau ngực, n (%)

7 (10,9)

6 (12,0)

13 (11,4)

P

> 0,05

 

 

Nhận xét: Đau ngực điển hình chiếm tỉ lệ cao hơn đau thắt ngực không điển hình chiếm (76,3% so với 12,3%), tỉ lệ bn không đau ngực chiếm (11,4%), sự khác biệt giữa hai nhóm nghiên cứu không có ý nghĩa thống kê, với p > 0,05.

Biểu đồ 1. Phân độ Killip lúc bệnh nhân nhập viện   

Biểu đồ 1. Phân độ Killip lúc nhập viện

Nhận xét: Bệnh nhân NMCT cấp killip IV chiếm tỉ lệ khá cao là 26,3%, trong đó nhóm NMTP tỉ lệ cao hơn nhóm NMTD (44% so với 12,5%). Sự khác biệt của 2 nhóm có ý nghĩa thống kê, với P=0,000.

Biểu đồ 2. Dạng block nhĩ thất trước và sau can thiệp

Biểu đồ 2. Phân bố blốc nhĩ thất lúc vào viện

Nhận xét: Tỉ lệ block AV độ III là 24,6%, nhóm NMTP chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm NMTD  (40,0% so với 12,5%), sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê, với P = 0,001.

Bảng 3. Động học troponin T hs lúc nhập viện và sau 24-48giờ

Troponin T hs

(BT < 24,9 pg/ml)

NMTD

(n=64)

NMTP

(n=50)

TB±SD

(n=114)

P

T–test

Tỉ lệ

Nhập viện (TB±SD)

650±24,2

1440±70,7

996,8±50,1

0,407

5,0

24-48h (TB±SD)

3520±33,4

6970±75.5

5033,9±69,8

0,008

 

Nhận xét: Troponin T hs sau 24-48 giờ tăng gấp 5,0 lần so với lúc vào viện (5033,9±69,8 so với 996,8±50,1), nhóm NMTP tăng cao nhóm NMTD, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm trong nghiên cứu, với P=0,008.

Bảng 4. Các típ tổn thương động mạch vành

ĐMV

A

B1

B2

C

RCA, n (%)

2 (3,3)

25 (27,8)

33 (36,7)

29 (32,2)

LAD, n (%)

2 (2,6)

23 (20,2)

51 (44,7)

27 (32,5)

LcX, n (%)

5 (7,4)

31 (45,6)

23 (33,8)

9 (13,2)

Nhận xét: Típ tổn thương thường gặp nhất nhánh RCA là típ B2 (36,7%), tiếp theo típ C (32,2%), típ B1, (27,8%), típ A (3,3%), nhánh LAD típ B2 (44,7%), nhánh LcX B2 (45,6%).

 

BÀN LUẬN

Tuổi trung bình của bệnh nhân là 67,5 ± 13,7  trong đó tuổi trung bình ở giới nam là 65,3±13,6 thấp hơn so với giới nữ 73,0± 12,4, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0.05. Theo tác giả Bùi Văn Minh là 64,6 ± 10,2 [9], Nguyễn Thị Mạch Yến tại Viện Tim Mạch Quốc Gia là 62.2 [14], Đặng Vạn Phước tại Bv. Chợ Rẫy là 61,47±14,96 [10] và theo Morrow DA là 62,0 ± 13,7 [20]. Có thể giải thích sự khác biệt này do đặc điểm BV. Thống Nhất chủ yếu điều trị cho cán bộ về hưu, nên tuổi trung bình cao hơn các n. cứu khác.

Nghiên cứu này có tỷ lệ bệnh nhân nam là 71,9% nhiều hơn bệnh nhân nữ 28,1%. Tỷ lệ nam giới gấp nữ giới là 2,5 lần.Tỷ lệ này hơi thấp hơn so với một số tác giả khác như theo Phạm Mạnh Hùng tại Viện tim mạch quốc gia là 3,6 [6],  Đặng Vạn Phước tại bệnh viện Chợ Rẫy là 3,2 [10]. Tỷ lệ nam giới gấp nữ giới trong nghiên cứu chúng tôi cao hơn Hoàng Quốc Hòa thực hiện tại BV. Nhân Dân Gia Định chiếm tỉ lệ 1,7 [4].

Nhóm NMTP có tỉ lệ các triệu chứng cơ năng (khó thở, vã mồ hôi, hồi hợp, buồn nôn/nôn, choáng váng, ngất) cao hơn nhóm NMTD. Triệu chứng cơ năng nhiều nhất là vã mồ hôi chiếm 86,0%, khó thở 83,3%, và nôn - buồn nôn 63,2%. Điều này là phù hợp với sinh lý bệnh của NMTP, vị trí tắc thường ở đoạn gần và đầu đoạn giữa nhánh ĐMV phải nên diện tổn thương cơ tim rộng hơn, khả năng giảm cung lượng tim dễ xảy ra hơn NMTD cấp, dẫn đến khả năng tụt huyết áp giảm tưới máu cho não gây choáng mặt, choáng ngất nhiều hơn.

Bệnh nhân NMCT cấp killip IV chiếm tỉ lệ khá cao (26,3%) trong đó NMTP tỉ lệ cao hơn (44% so với 12,5%) hơn NMTD. Sự khác biệt của 2 nhóm có ý nghĩa thống kê P < 0,05. Kết quả của nghiên cứu chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Mello BH là 19,0% [19]. Như vây nguy cơ tử vong trong 30 ngày của NMTP cao hơn NMTD. Tỉ lệ tử vong do sốc tim là 4.4%, thấp hơn Nguyễn Cửu Lợi nghiên cứu năm 2010 tại Bv. Trung Ương Huế là 8,9% [8].

Tỷ lệ tổn thương một nhánh ĐMV là 17,5%, hai nhánh là 26,9%, ba nhánh là 41,2% và 3 nhánh kèm thân chung là 14,9%. Khi so sánh tổn thương ĐMV 3 nhánh với một số tác giả khác như Võ Thành Nhân tại Bv Chợ Rẫy là40,0%[10], Trương Quang Bình tại Bv ĐH Y Dược là 22,3%[2], thì tỷ lệ tổn thương mạch vành 3 nhánh của chúng tôi cao hơn. Ngoài những yếu tố nguy cơ mạch vành ra, thì tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nhiều so với các tác giả trên, và đây có thể là nguyên nhân gây ra sự khác biệt này.

Tỉ lệ ĐMV phải là nhánh thủ phạm là 96,5%, tắc cấp gây NMCT thành dưới, tuy nhiên ghi nhập có 4 trường hợp thủ phạm là nhánh LAD trội và dài chạy vòng ra tới mỏn và cung cấp máu thành dưới có 02 trường hợp (1,8%) và nhánh LcX trội cung cấp máu thành sau dưới có 02 trường hợp (1,8%) bị tắc hoàn toàn gây NMCT cấp thành dưới. So sánh với một số tác giả Bùi Ngọc Minh đm thủ phạm là 96,8% [9], tác giả Bueno Hécto là 90,0% [16].

Theo nghiên cứu GUSTO IIB khảo sát trên 12.142 bệnh nhân. Tỉ lệ tử vong chung trong 30 ngày 6,1%, trong 6 tháng là 8.0%, trong vòng 1 năm 9,6% . Theo Gusto IIB với dòng chảy TIMI 3,2 và 1-0 sau can thiệp, tỉ lệ tử vong trong 30 ngày tương đương là 1,6% và 19,9%, 20% [3].

Nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ tử vong trong thời gian nằm viện là 4,4%, sau 6 tháng là 5,3%, sau 1 năm là 7,0%, sau 2 năm 7,9%. Tương tự tác giả Danchin Nicolas nghiên cứu tại Pháp tỉ lệ tử vong là 4,4% [21].Tỉ lệ tử vong trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn một số nghiên cứu có thể cơ mẫu nghiên cứu còn nhỏ. Tất cả 05 bệnh nhân tử vong đó đều có thang điểm MAYO CLINIC rất cao (≥15đ), không ghi nhập trường hợp nào tử vong khi có thang điểm từ rất thấp đến nguy cơ cao (0–14 điểm). Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, với p <0,05.

 

KẾT LUẬN

Các yếu tố nguy cơ tim mạch: tăng HA là 66,7%, rối loạn lipide máu 42,1%, hút thuốc lá 38,6%, đái tháo đường 28,9%, béo phì 21,9%.

Triệu chứng lâm sàng: Nhóm NMTP vào viện vì choáng váng, ngất, hồi hợp chiếm tỉ lệ cao hơn (54,0%, 26%, 62,0%) so với nhóm NMTD (26,6%, 3,1%, 39,1%). Đau thắt ngực điển hình 76.3%, đau thắt ngực không điển hình 12,3% và có 11,4% bệnh nhân vào viện không đau ngực. Có 25,7% NMTP nhập viện vì đau vùng thượng vị. Nhóm NMTP nhập viện có killip IV chiếm tỉ lệ cao hơn (44.0% so với 12,5%) so với nhóm NMTD.

Rối loạn nhịp: rối loạn nhịp là 70,2%, suy tim 46,5%, blốcnhĩ thất 39,5%, (blốc nhĩ thất độ III 24,6%), nhịp độ nối 13,2%, rung thất 7,9%, bệnh thận do thuốc cản quang 6,1%, sốc tim 5,3%. Nhóm NMTP vào viện nhịp tim <40 lần/phút tỉ lệ cao hơn nhóm NMTD (14% so với 1,6%). Nhóm NMTP có 40% biến chứng blốc nhĩ thất độ III.

Bệnh mạch vành 3 nhánh chiếm tỉ lệ cao là 41,2%, các típ tổn thương nhánh RCA là típ B2 là 36,7%, típ C 32,2%, típ B1 27,8%, típ A 3,3%. Nhóm NMTP tổn thương đoạn gần RCA cao hơn nhóm NMTD (44,0% so với 10,9%).

Tỉ lệ tử vong: Nhóm NMTP chiếm tỉ lệ tử vong hơn nhóm NMTD (3,5% so với 0,9%). Nữ giới có tỉ lệ tử vong cao hơn so nam giới (12,5% so với 1,2%). Nhóm NMTP có thang điểm TIMI cao hơn nhiều so với nhóm NMTD (52,0% so với 17,0%). Tất cả bệnh nhân tử vong có thang điểm Mayo clinic rất cao ≥15 điểm.

Thang điểm nguy cơ TIMI và Mayo clinic: nhóm bệnh nhân NMTP có thang điểm nguy cơ TIMI và Mayo clinic cao hơn có tỉ lệ biến cố tim mạch cao hơn nhóm bệnh nhân NMTD.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.    Trương Quang Bình, Châu Ngọc Hoa, Đặng Vạn Phước (2001), “Lịch sử về bệnh động mạch vành và điều trị can thiệp động mạch vành”, Can thiệp động mạch vành trong thực hành lâm sàng, NXB Y Học, Tp. Hồ Chí Minh, tr. 1-9.
2.    Trương Quang Bình (2007), “Kết quả can thiệp động mạch vành qua da tại Bệnh viện Đại Học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh trong 2 năm”, NXB Y học, TP. Hồ Chí Minh, 11(1), tr. 104-110.
3.    Hồ Thượng Dũng, Huỳnh Thanh Hải, Vũ Minh Đức và cs (2007), “Kết quả của phương pháp can thiệp động mạch vành qua da trong nhồi máu cơ tim cấp có ST chênh lên tại bệnh viện Thống Nhất”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học năm 2006 Bv. Thống Nhất, tr. 47-57.
4.    Hoàng Quốc Hòa (2010), “Khảo sát đặc điểm 25 bệnh nhân nhồi máu cơ tim thất phải ST chênh lên”, Y Học Tp. Hồ Chí Minh, 14(2), tr. 1-3.
5.    Vũ Đình Huy, Richard C. Pasternak (2000), “Nhồi máu cơ tim cấp”, Các Nguyên Lý Y Học Nội Khoa Harrison tập 3, NXB Y Học, tr. 210-228.
6.    Phạm Mạnh Hùng, Đào Trọng Thành, Nguyễn Ngọc Quang (2010), “Nghiên cứu tính khả thi và hiệu quả của can thiệp động mạch vành thì đầu qua đường động mạch quay ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp”, Tạp Chí Tim Mạch Học Việt Nam, 52, tr. 36-44.
7.    Hà Nhất Linh (2014), “Nghiên cứu đặc điểm một số biến chứng trong 24 giờ đầu can thiệp động mạch vành qua da tại viện tim mạch quốc gia Việt Nam”, Luận Án Tiến Sỹ Y Học, chuyên ngành Nội Tim Mạch, Học Viện Quân Y, tr. 1-147.
8.    Nguyễn Cửu Lợi, Phạm Vũ Thanh (2010), “Nghiên cứu đặc điểm tổn thương động mạch vành và tiên lượng ngắn hạn của bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp vùng dưới”, Tạp Chí Tim Mạch Học Việt Nam, 52, tr. 27-35.
9.    Bùi Ngọc Minh (2008), “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị nhồi máu cơ tim thất phải cấp tính”, Luận Án Tiến Sỹ Y Khoa, chuyên ngành Nội Tim Mạch, Học Viện Quân Y, tr. 1-93.
10.    Đặng Vạn Phước, Võ Thành Nhân (2003), “Can thiệp động mạch vành cấp cứu trong nhồi máu cơ tim cấp nhân 34 trường hợp tại Bệnh viện Chợ Rẫy”, NXB Y Học TP. Hồ Chí Minh, 7(1), tr.1-6.
11.    Võ Quảng, Trương Quang Nhơn, Lê Đức Thắng và cs (1998), “Một số nhận xét về nhồi máu cơ tim cấp và bán cấp tại Bệnh Viện Thống Nhất từ nam 1986-1996”, Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học Bv Thống Nhất, tr. 50-57. [29]
12.    Nguyễn Văn Tân (2015), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, và điều trị nhồi máu cơ tim cấp ở bệnh nhân trên 65t và dưới 65t tại Bv Thống Nhất”, Luận Án Tiến Sỹ Y Khoa, chuyên ngành Nội Tim Mạch,Đại Học Y Dược tp Hồ Chí Minh, tr.1-121.
13.    Nguyễn Quang Tuấn (2011), “Đặc điểm giải phẩu bệnh chức năng động mạch vành”, Can thiệp động mạch vành qua da trong điều trị nhồi máu cơ tim cấp, phương pháp, kết quả nghiên cứu, hiệu quả và tiên lượng, NXB Y Học, Hà Nội, tr.19-24.
14.    Nguyễn Thị Bạch Yến, Trần Văn Đồng, Phạm Quốc Khánh và cs(1996), “Tình hình bệnh mạch vành qua 130 trường hợp nằm viện tại Viện Tim mạch trong 5 năm (1/91 – 10/95)”,Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, 8, tr. 1-5.
15.    Antman EM, LoscalzoJoseph (2012), “ST–Segment Elevation Myocardial Infarction”, Harrisons principles of internal medicine, 18th edition, 2, Mc Graw Hill Medical, pp.2021-2035.
16.    Buero H, Palop RL, David EP, et al (1998), “Combined effect of age and right ventricular involvement on Acute Inferior Myocardial Infarction Prognostis”, Circulation AHA, 98, pp. 1714-1720.
17.    Christoffenson RD, Griffin BP, Topol EJ (2009), “Acute Myocardial Infarction”, Manual of cardiovascular medicine, Third Edition, Lippincott Williams et Wilkins, pp.1-25.
18.    Kastrati A, Schomig A, Elezi S, et (1999), “Prognostic Value of the Modified ACC/AHA Stenosis Morphology Classification for Long - Term Angiographic and Clinical Outcome After Coronary Stent Placement”, Circulation, 100, pp. 1285-1290.
19.    MelloBH, Oliveira GB,Ramos RF, et al (2014), “Validation of the Killip-Kimball Classification and Late Mortality after Acute Myocardial Infarction”, Arq Bras Cardiol, 103(2), pp. 107–117.
20.    Morrow DA, Antman EM, CharlesworthA, et al (2000), “TIMI Risk Score for ST-Elevation Myocardial Infarction: A Convenient, Bedside, Clinical Score for Risk Assessment at Presentation”, Circulation AHA, 102, pp. 2031-2037.
21.    Danchin N, Puymirat E, Carli P et tout (2014), “Linfarctus du myocarde en France métropolitaine de 1995 à 2010: évolution de la typologie des patients, de la prise en charge et du pronostic à court terme”, Bull. Acad. Natle Méd, 198 (1), pp. 85-100.