slogan

 
 

topbannerv1

TIN TỨC

RIVAROXABAN Ở BỆNH NHÂN ỔN ĐỊNH SAU NHỒI MÁU CƠ TIM ST CHÊNH LÊN

(Kết quả từ thử nghiệm ATLAS ACS-2-TIMI-51: Anti Xa Therapy to Lower Cardiovascular Events in Addition to Standard Therapy in Subjects with Acute Coronary Syndrome – Thrombolysis In Myocardial Infarction-51: Điều trị bằng thuốc kháng Xa để giảm biến cố tim mạch cùng với điều trị chuẩn ở bệnh nhân hội chứng vành cấp – Thuốc làm tan huyết khối trong nhồi máu cơ tim-51)

            Tỷ lệ tái phát biến cố tim mạch trong vòng 2 năm sau nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên giảm khi điều trị bằng Rivaroxaban (Xarelto, Bayer/Janssen) 2 lần/ngày trong thử nghiệm có nhóm chứng giả dược ATLAS ACS 2-TIMI 51, đã được đăng trên tạp chí của Trường môn tim mạch Hoa Kỳ.       

            So với nhóm giả dược, thuốc ức chế yếu tố Xa làm giảm các biến cố tiên phát (nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch, nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ) 19% (p = 0,019) trong phân tích gồm hơn 7.800 bệnh nhân nhồi máu cơ tim với ST chênh lên, gần như tất cả trong số đó đều đang dùng kháng kết tập tiểu cầu kép. Lợi ích có ý nghĩa sau 30 ngày.

            Ngoài ra, Rivaroxaban cũng có liên quan với nhiều trường hợp bị xuất huyết nặng không do phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành cũng như xuất huyết nội sọ mặc dù xuất huyết này không gây tử vong.

            Theo Tiến sĩ Jessica L Mega: “Rivaroxaban được cho 2 lần/ngày với 2 mức liều là 2,5 mg hoặc 5 mg. Liều thấp hơn có tính an toàn cao hơn và có thể giải thích phần nào kết quả sống còn tốt hơn với liều rất thấp của Rivaroxaban”.

            Trong nghiên cứu này, ích lợi của việc điều trị bằng Rivaroxaban xuất hiện sớm, ngay tại thời điểm mà bệnh nhân nhồi máu cơ tim ST chênh lên “có nguy cơ đặc biệt cao bị các biến cố tái phát” và “kéo dài trong suốt thời gian điều trị bằng chống kết tập tiểu cầu”. Cũng theo L. Mega, thêm Rivaroxaban 2,5 mg, 2 lần/ngày là một chiến lược hiệu quả để giảm các biến cố tim mạch ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim ST chênh lên”.

 

Thử nghiệm phân ngẫu nhiên 7.817 bệnh nhân nhồi máu cơ tim ST chênh lên vào nhóm Rivaroxaban liều thấp (n = 2.601) hoặc liều cao (n = 2.584) hoặc giả dược (n = 2.632) khi bệnh nhân đã ổn định sau biến cố cấp (trung bình là 4,7 ngày).

Kết quả ghi nhận cho Rivaroxaban (tính gộp cho cả 2 chế độ liều) so với giả dược trong nhồi máu cơ tim ST chênh lên, dựa trên phân tích ITT:

Kết cục

HR (95% khoảng tin cậy)

Kết cục tiên phát (Tử vong tim mạch/Nhồi máu cơ tim/Đột quỵ) sau 2 năm

0,81 (0,67-0,97)

Tử vong tim mạch (gồm xuất huyết tử vong)

0,76 (0,57-1,02)

Nhồi máu cơ tim

0,78 (0,62-0,98)

Đột quỵ

1,42 (0,81-2,46)

Kết cục tiên phátdựa trên điều trị chống kết tập tiểu cầu đôi

0,78 (0,64-0,94)

Kết cục tiên phátở thời điểm 30 ngày

0,71 (0,51-0,99)

Khi tính gộp chung cho cả 2 nhóm điều trị với Rivaroxaban đều cho thấy giảm đáng kể so với giả dược các kết cục tiên phát như tử vong tim mạch, nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ (p = 0,019) trong vòng 2 năm. Lợi ích của Rivaroxaban có ý nghĩa trong vòng 30 ngày theo dõi đầu tiên (p = 0,042). Ý nghĩa cũng được duy trì sau 2 năm trong một phân tích chỉ gồm những biến cố xảy ra khi bệnh nhân đang điều trị cấp tính bằng thuốc kháng kết tập tiểu cầu đôi (p = 0,010).

Liều Rivaroxaban trong nhồi máu cơ tim ST chênh lên

Phần lớn các ích lợi của Rivaroxaban tập trung ở những bệnh nhân điều trị thuốc với liều 2,5mg, 2 lần/ngày với giảm có ý nghĩa trong tử vong tim mạch (p = 0,006) và tử vong do mọi nguyên nhân (p = 0,008).

Tỷ số nguy cơ (khoảng tin cậy 95%) cho kết cục trong vòng 2 năm của các chế độ liều Rivaroxaban so với giả dược

Kết cục

Rivaroxaban 2,5mg

Rivaroxaban 5 mg

Kết cục tiên phát (tử vong tim mạch, nhồi máu cơ tim, đột quỵ)

0,81 (0,65-1,00)

0,81 (0,66-1,00)

Tử vong tim mạch

0,60 (0,42-0,870

0,92 (0,67-1,28)

Tử vong do bất kỳ nguyên nhân nào khác

0,63 (0,45-0,89)

0,99 (0,73-1,35)

 

Khi tính gộp chung cho cả 2 chế độ liều Rivaroxaban, tỷ lệ xuất huyết nội sọ tăng đáng kể (HR = 8,14, khoảng tin cậy 95% là 1,08-61,37; p = 0,015). Nguy cơ tăng vừa phải ở nhóm liều thấp (p = 0,031) nhưng nguy cơ tăng cao đáng kể ở nhóm liều cao (p = 0,008).

Bất kể liều nào, Rivaroxaban đều làm tăng tỷ lệ xuất huyết nặng không liên quan đến phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành đáng kể so với giả dược.

Tỷ số nguy cơ (Khoảng tin cậy 95%) cho xuất huyết nặng không liên quan đến phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành của Rivaroxaban so với giả dược, chia theo liều:

Rivaroxaban hoặc giả dược

HR (95% khoảng tin cậy) *

Rivaroxaban (cả 2 liều)

4,52 (2,27-9,01)

Rivaroxaban 2,5mg

3,63 (1,73-7,61)

Rivaroxaban 5 mg

5,47 (2,68-11.17)

 

(*): Tất cả đều có p < 0,001

Tăng rõ rệt nguy cơ xuất huyết gây tử vong trong 2 nhóm liều gộp lại không có ý nghĩa thống kê (HR = 1,54; 95% CI = 0,42-5,70; p = 0,51). Cũng không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở từng nhóm liều riêng biệt.

Điều cần chú ý là thử nghiệm này được thiết kế nhằm “loại trừ những bệnh nhân có nguy cơ cao bị xuất huyết và vì vậy, không nên áp dụng cho những bệnh nhân này” và phân tích cũng không xem xét bất kỳ tác nhân chống kết tập tiểu cầu hoặc chống đông nào trong giai đoạn cấp của nhồi máu cơ tim ST chênh lên.

(From Rivaroxaban in Patients Stabilized After a ST-Segment Elevation Myocardial Infarction. Mega JL, Braunwald E, Murphy SA, et al.
J Am Coll Cardiol. 2013;61:1853-9)