slogan

 
 

topbannerv1

TIN TỨC

Trong Chuyên mục xa lộ thông tin lần này, chúng tôi xin gửi đến quý Bác sĩ 2 chủ đề. Đầu tiên là bài trích dịch đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phác đồ chống đông đường uống và aspirin trong điều trị mở rộng bệnh lý thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch. Tiếp theo, một phân tích tiến cứu tính an toàn toàn bộ của Rivaroxaban, có bao gồm cả dân số Châu Á và Việt Nam, được đề cập.

Điều trị mở rộng huyết khối tĩnh mạch: tổng quan hệ thống và phân tích gộp

Mục tiêu

Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của phác đồ chống đông đường uống và aspirin trong điều trị mở rộng huyết khối tĩnh mạch (VTE).

Phương pháp

Nghiên cứu tìm kiếm trên MEDLINE, Embase, CENTRAL và các y văn hội nghị về các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng các thuốc kháng vitamin K (VKAs), thuốc chống đông đường uống trực tiếp (DOACs) hoặc aspirin trong phòng ngừa thứ phát VTE vượt quá 3 tháng. ORs (khoảng tin cậy 95%) giữa các phương pháp điều trị được ước tính bằng cách sử dụng phân tích gộp mạng hiệu ứng ngẫu nhiên Bayes (random-effects Bayesian network meta-analysis).

Kết quả

Mười sáu nghiên cứu, tổng cộng hơn 22 000 bệnh nhân được đưa vào phân tích. So với giả dược hoặc quan sát và so với aspirin, nguy cơ VTE tái phát thấp hơn với VKA cường độ chuẩn (0,15 (0,08 - 0,24) và 0,23 (0,09 - 0,54)), ức chế yếu tố Xa liều thấp (0,16 (0,06 - 0,38) và 0,25 (0,09 - 0,66)), liều chuẩn chất ức chế Xa (0,17 (0,08 - 0,33) và 0,27 (0,11 - 0,65)) và thuốc ức chế thrombin trực tiếp (0,15 (0,04 - 0,37) và 0,23 (0,06 - 0,74) )) mặc dù nguy cơ chảy máu nặng cao hơn với các VKA liều chuẩn (4,42 (1,99 - 12,24) và 4,14 (1,17 - 18,86)). Các ước tính về hiệu quả là hằng định ở bệnh nhân nam và những người có thuyên tắc phổi hoặc với VTE không yếu tố kích phát và trong phân tích độ nhạy. Ngoài ra, so với giả dược hoặc quan sát, nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân đã giảm với VKA liều chuẩn (0,44 (0,20 - 0,87)) và thuốc ức chế yếu tố Xa liều thấp (0,38 (0,12 - 0,995)).

Kết luận

VKAs liều chuẩn và DOAC hiệu quả hơn aspirin để điều trị VTE mở rộng. Mặc dù có nguy cơ chảy máu nặng nhiều hơn, nhưng VKAs liều chuẩn đi kèm với nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân thấp hơn. Vì hiệu quả và độ an toàn tổng thể của các VKA liều chuẩn và DOAC là tương đương, các yếu tố bệnh nhân, chi phí và sở thích của bệnh nhân nên được xem xét khi đề xuất điều trị kháng đông mở rộng.

Hình 1: Hiệu quả ước tính của tất cả các so sánh cặp đôi cho huyết khối tái phát (A) và chảy máu nặng (B).

 

Nguồndịch:Heart 2018 Oct 16. pii: heartjnl-2018-313617

 

Phân tích tiến cứu tính an toàn toàn bộ của Rivaroxaban

Cơ sở

Hiệu quả của thuốc kháng đông đường uống trực tiếp (DOAC) để phòng ngừa đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ (AF) đã được thiết lập trong các thử nghiệm lâm sàng. Tuy nhiên, các nghiên cứu quan sát tiến cứu trên thế giới thực, được theo dõi tốt về tính an toàn và hiệu quả của DOAC là cần thiết.

Mục tiêu

Nghiên cứu này đã tìm cách đánh giá dung mạo trong thế giới thực về tính an toàn của rivaroxaban thông qua phân tích gộp của bệnh nhân AF được ghi danh vào chương trình XANTUS (Xarelto for Prevention of Stroke in Patients With Atrial Fibrillation) trên toàn thế giới.

Phương pháp

Một phân tích gộp đã được lên kế hoạch trước của 3 nghiên cứu sổ bộ XANTUS, XANAP (Xarelto for Prevention of Stroke in Patients With Atrial Fibrillation in Asia), và XANTUS-EL (Xarelto for Prevention of Stroke in Patients With Atrial Fibrillation in Latin America and EMEA Region) được thực hiện. Bệnh nhân có AF mới khởi trị với rivaroxaban để phòng ngừa đột quỵ được theo dõi trong 1 năm. Kết cục chính là điều trị - chảy máu nặng do điều trị, các tác dụng phụ (AE) / AE nghiêm trọng và tử vong do mọi nguyên nhân. Kết cục thứ phát bao gồm các biến cố thuyên tắc huyết khối liên quan điều trị và xuất huyết không nặng.

Kết quả

Tổng cộng có 11.121 bệnh nhân được thu nhận (tuổi trung bình là 70,5±10,5 năm; nữ là 42,9%). Các bệnh kèm theo bao gồm suy tim (21,2%), tăng huyết áp (76,2%) và đái tháo đường (22,3%). Tần suất biến cố là: sự kiện / 100 bệnh nhân-năm: chảy máu nặng 1,7 (khoảng tin cậy 95% [CI]: 1,5-2,0; thấp nhất: Mỹ Latinh 0,7; cao nhất: Tây Âu, Canada và Israel 2,3); Tử vong do mọi nguyên nhân 1,9 (95% CI: 1,6 đến 2,2; thấp nhất: Đông Âu 1,5; cao nhất: Mỹ Latin, Trung Đông và châu Phi 2,7); đột quỵ hoặc thuyên tắc hệ thống 1,0 (KTC 95%: 0,8-1,2; thấp nhất: Mỹ Latinh 0; cao nhất: Đông Á 1,8). Điều trị dai dẳng một năm là 77,4% (thấp nhất: Đông Á 66,4%, cao nhất: Đông Âu 84,4%).

Kết luận

Phân tích tiến cứu lớn trong thế giới thực ở 11.121 bệnh nhân từ 47 quốc gia cho thấy tần suất chảy máu và đột quỵ thấp ở bệnh nhân AF được điều trị bằng rivaroxaban, tần suất ngừng điều trị thấp ở các vùng khác nhau trên thế giới. Kết quả là hằng định giữa các vùng rộng lớn.

Hình 2: Tần suất dồn tính an toàn của Rivaroxaban

 

Nguồndịch: J Am Coll Cardiol 2018;72:141–53