slogan

 
 

TIN TỨC

BỔ SUNG CANXI KHÔNG LÀM TĂNG BỆNH MẠCH VÀNH

 

Bổ sung canxi có kèm hoặc không kèm vitamin D không làm tăng bệnh lý tim mạch ở nam và nữ, từ 40 đến 69 tuổi. Phân tích gần đây nhất, bao gồm dữ kiện từ hơn 500 ngàn người, đã xem xét vấn đề này một lần nữa.

Theo Tiến sỹ Nicholas Harvey, Đại học Souththampton, Vương quốc Anh: Trước đây, tác dụng phụ duy nhất của việc bổ sung canxi là tăng nguy cơ bị rối loạn tiêu hóa và tăng nhẹ nguy cơ bị sỏi thận nhưng trong những năm gần đây, một số nghiên cứu nhỏ cho thấy, bổ sung canxi có thể làm tăng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim.    

          Từ dữ liệu của nghiên cứu đoàn hệ Biobank, Vương quốc Anh, chúng ta có cơ hội để xem xét vấn đề này trên 500.000 người nam và nữ ở Anh quốc, từ tuổi trung niên trở lên. Kết quả cho thấy: bổ sung canxi có kèm hoặc không kèm vitamin D không làm tăng nguy cơ bị biến cố tim mạch.

Nghiên cứu này đã được trình bày tại Hội nghị Quốc tế về loãng xương, bệnh lý cơ-xương-khớp, tổ chức tại Malaga, Tây Ban Nha, từ ngày 14–17/04/2016.

Bổ sung canxi, vitamin D là an toàn

Nghiên cứu đoàn hệ Biobank, Vương quốc Anh là một nghiên cứu tiền cứu lớn, gồm 502.664 nam và nữ từ Vương quốc Anh. Độ tuổi trung bình của những người tham gia nghiên cứu lúc ban đầu là 58 tuổi.

Các nhà nghiên cứu đã ghi lại lượng canxi và vitamin D bổ sung và liên kết việc này với nhập viện vì bệnh tim thiếu máu cục bộ, bất kỳ biến cố tim mạch nào,và tử vong trong vòng 7 năm.

Họ nhận thấy rằng, 34.890 người tham gia có uống bổ sung canxi và 20.004 người được uống bổ sung vitamin D. Chỉ có 2,1% của nhóm nghiên cứu là uống bổ sung vừa canxi, vừa vitamin D.

Cả hai phân tích, thô và có điều chỉnh cho tất cả các yếu tố gây nhiễu có thể cho thấy: không có mối liên quan giữa việc sử dụng các chất bổ sung canxi và nguy cơ nhập viện vì bệnh tim thiếu máu cục bộ, bất kỳ biến cố tim mạch nào, hoặc tử vong - Tiến sĩ Harvey báo cáo.

Nguy cơ sau khi điều chỉnh cho kết cục nghiên cứu

Nhóm

Nguy cơ nhập viện vì bệnh tim thiếu máu cục bộ (95% CI)

Nguy cơ tử vong vì bệnh tim thiếu máu cục bộ

Phụ nữ uống bổ sung canxi và không uống bổ sung canxi

1,06 (0,32–1,61; P = 0,62)

0,71 (0,32–1,61; P = 0,42)

Namuống bổ sung canxi và không uống bổ sung canxi

1,02 (0,80–1,30; P = 0,87)

0,92 (0,52–1,62; P = 0,76)

 

* Kết quả tương tự cho nhóm bổ sung vitamin D và bổ sung kết hợp canxi, vitamin D

Điềuchỉnh thêm cho việcsửdụngliệupháphormon thay thế ở phụnữcũng không làm thay đổisự liên quan giữaviệcbổ sung canxivàcácbiếncố tim mạch.

Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những phát hiện này vẫn mạnh, ngay cả khi đã điều chỉnh cho các yếu tố gây nhiễu có thể, bao gồm tuổi, chỉ số khối cơ thể,việc sử dụng thuốc, và kết quả vẫn như thế cho dù những người tham gia có hay không có tiền căn bệnh lý tim mạch lúc tham gia nghiên cứu.

"Bổ sung canxi được sử dụng rộng rãi, như là một thuốc hỗ trợ cho điều trị bệnh loãng xương", tiến sĩ Harvey cho biết. “Kết quả của chúng tôi, bằng cách sử dụng nghiên cứu đơn lẻ lớn nhất cho đến nay, cho thấy rằng, bổ sung canxi là an toàn”.

Không có bằng chứng về mối liên hệ nhân quả

Từ lâu, đã có cuộc tranh luận về sự an toàn tương đối của các chất bổ sung canxi. Các bác sĩ khuyến cáo mọi người cố gắng bổ sung lượng canxi cần thiết từ các nguồn thực phẩm chứ không nên từ thuốc.

Nhưng do canxi và vitamin D rất cần thiết cho sức khỏe của xương và thường không thể cung cấp đủ nhu cầu canxi cho người cao tuổi qua chế độ ăn, nên bổ sung canxi được sử dụng rộng rãi. Những người cao tuổi không chỉ có nguy cơ loãng xương mà còn có nguy cơ bị bệnh tim mạch, do đó không nên dùng một thuốc để ngăn chặn bệnh này nhưng lại làm trầm trọng thêm bệnh khác và không có bằng chứng về mối liên hệ nhân quả giữa bổ sung canxi và bệnh lý tim mạch.

(Dịch từ Latest Data: Calcium Supplements Not Associated With CVD.

http://www.medscape.com/viewarticle/862345)

 

TÍNH AN TOÀN VÀ HIỆU QUẢ CỦA RIVAROXABAN ĐƯỜNG UỐNG SO VỚI KHÁNG ĐÔNG CHUẨN TRONG ĐIỀU TRỊ HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH SÂU CÓ TRIỆU CHỨNG (NGHIÊN CỨU XALIA):

NGHIÊN CỨU TIẾN CỨU QUỐC TẾ KHÔNG CAN THIỆP

 

Bối cảnh

Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (venous thromboembolism – VTE) bao gồm huyết khối tĩnh mạch sâu (Deep-vein thrombosis – DVT) hoặc thuyên tắc phổi (Pulmonary embolism – PE) hoặc cả 2 bệnh lý trên là nguyên nhân đứng thứ 3 trong các rối loạn tim mạch thường gặp nhất, với tần suất mới mắc 1-2 trường hợp/1000 người trong dân số chung, và nguy cơ này tăng theo tuổi. Đến hiện tại, điều trị chuẩn cho hầu hết những trường hợp VTE bao gồm kháng đông đường tiêm (như heparin trọng lượng phân tử thấp – LMWH) và kháng vitamin K, với mức đích INR là 2-3. Kháng đông trực tiếp đường uống apixaban, dabigatran, edoxaban, và rivaroxaban đã cho thấy hiệu quả trong các thử nghiện lâm sàng pha 3 trong điều trị cấp và lâu dài VTE. Nghiên cứu pha 3 EINSTEIN DVT cho thấy trong điều trị và dự phòng tái phát VTE, rivaroxaban có hiệu quả ngang với LMWH và kháng vitamin K với tần suất chảy máu tương tự. Trong năm 2011, rivaroxaban là thuốc kháng đông uống trực tiếp đầu tiên được EMA phê duyệt cho điều trị DVT cấp và dự phòng thứ phát VTE tái phát. Những nghiên cứu pha 3 đã chọn tiêu chuẩn nhận vào và việc lặp lại những ghi nhận này là cần thiết trên một quần thể bệnh nhân rộng lớn trong thực hành lâm sàng. Nghiên cứu XALIA được thực hiện nhằm đánh giá tính an toàn và hiệu quả của rivaroxaban trong điều trị DVT có triệu chứng ở những bệnh nhân điển hình được xử trí trong thực hành thường quy và để đạt được những yêu cầu luật định trong đánh giá cấp phép trên thị trường từ EMA.

Phương pháp

XALIA là nghiên cứu tiến cứu không can thiệp, đa trung tâm quốc tế trên những bệnh nhân DVT được thực hiện tại nhiều bệnh viện và trung tâm chăm sóc cộng đồng ở 21 quốc gia. Nghiên cứu khảo sát tính an toàn và hiệu quả của rivaroxaban so với điều trị kháng đông chuẩn (bắt đầu điều trị với heparin không phân đoạn, LMWH, hoặc fondaparinux, thường gối đầu và tiếp tục sau đó bằng kháng vitamin K) cho ít nhất 3 tháng. Bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu là những người ≥ 18 tuổi đã được chẩn đoán DVT và được chỉ định điều trị kháng đông ít nhất 3 tháng. Chấp thuận sau đó của rivaroxaban cho chỉ định điều trị PE nên những bệnh nhân DVT và có PE kết hợp cũng được đưa vào nghiên cứu, tuy nhiên những bệnh nhân PE đơn thuần không được đưa vào. Loại, liều và thời gian điều trị thuốc cho mỗi bệnh nhân tùy theo quyết định của nhà lâm sàng. Kết cục tiên phát về tính hiệu quả và an toàn là chảy máu nặng, VTE tái phát và tử vong do mọi nguyên nhân. Phân tích hiệu chỉnh điểm khuynh hướng được thực hiện để tính toán khi có sự không cân bằng giữa các nhóm. 

Ghi nhận

Từ 26/06/2012 đến 31/03/2014, tổng cộng 5142 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu. Quần thể an toàn (tất cả bệnh nhân nhận ít nhất 1 liều thuốc chống đông) bao gồm 2619 bệnh nhân trong nhóm rivaroxaban và 2149 bệnh nhân trong nhóm điều trị kháng đông chuẩn. Bệnh nhân trong nhóm rivaroxaban trẻ hơn, và ít có ung thư hoạt động hoặc PE đi kèm hơn nhóm kháng đông chuẩn. Trong quần thể có hiệu chỉnh điểm khuynh hướng, tần suất chảy máu nặng là 0,8% (19/2505) trong nhóm rivaroxaban và 2,1% (43/2010) trong nhóm kháng đông chuẩn, với HR hiệu chỉnh khuynh hướng điểm là 0,77 (95% CI 0,40-1,50); p=0,44. Tần suất VTE tái phát là 1,4% (36/2505) trong nhóm rivaroxaban và 3,4% (69/2010) trong nhóm kháng đông chuẩn, với HR hiệu chỉnh khuynh hướng điểm là 0,51 (95% CI 0,40-1,50); p=0,074. Tỉ suất mới mắc biến cố tác dụng phụ liên quan điều trị là tương tự giữa 2 nhóm 36,0% (944/2619) trong nhóm rivaroxaban so với 37,5% (805/2149) trong nhóm kháng đông chuẩn.

Diễn giải

Trong thực hành lâm sàng, những bệnh nhân được điều trị với rivaroxaban có đặc điểm nguy cơ nền thấp hơn nhóm điều trị kháng đông chuẩn. Những kết quả từ hiệu chỉnh khuynh hướng điểm khẳng định rằng rivaroxaban là thuốc thay thế an toàn và hiệu quả cho điều trị kháng đông chuẩn trong 1 phổ rộng bệnh nhân. Tần suất chảy máu nặng và VTE tái phát là thấp ở những bệnh nhân điều trị với rivaroxaban và kết quả này hằng định với những ghi nhận trong nghiên cứu pha 3 


Như vậy cứ mỗi 37 giây trôi qua vài người trên thế giới phương Tây chết vì huyết khối tĩnh mạch, kết quả từ 2 nghiên cứu trong thế giới thực, 1 nghiên cứu không can thiệp XALIA ở những BN bị DVT, và 1 nghiên cứu huyết khối liên quan ung thư (CAT), cả 2 cùng cho thấy tỷ lệ chảy máu nặng và VTE tái phát đều thấp khi điều trị với rivaroxaban.

Hainghiên cứu này đã được giới thiệu tại Hội nghị thường niên 2015 của Hội Huyết học Hoa Kỳ và nghiên cứu XALIA tái khẳng định lợi ích dương tính khi đánh giá lợi ích - nguy cơ của rivaroxaban đã được xác lập trong nghiên cứu EINSTEIN DVT…

 

Nghiên cứu XALIA đã được đăng tải trên tạp chí The Lancet Haematology, Volume 3, Issue 1, January 2016, Pages e12-e21