slogan

 
 

TIN TỨC

Bác sĩ chỉ nên kê đơn thuốc làm giảm cholesterol máu cho những người không muốn thay đổi lối sống hay những người đã thay đổi lối sống rồi nhưng nồng độ lipid còn cao hơn mục tiêu điều trị. Thay đổi lối sống không tốn kém và đặc biệt là không có tác dụng phụ. Ngoài việc làm giảm nồng độ cholesterol trong máu, nó còn giúp làm cải thiện tâm lý và tinh thần của người bệnh tim mạch.

Rối loạn lipid máu là nguyên nhân chủ yếu của vữa xơ động mạch

Cholesterol và triglycerid máu là các thành phần chất béo ở trong máu. Chúng thường được gọi là các thành phần của mỡ máu hay chính xác hơn là lipid máu. Các cholesterol thường có nguồn gốc từ thức ăn của chúng ta, tuy nhiên cơ thể có thể tạo ra tất cả các cholesterol cần thiết. Triglycerid máu có nguồn gốc từ thức ăn do chúng ta ăn vào. Có 6 loại lipoprotein khác nhau về tỷ trọng, nhưng có 2 loại được quan tâm nhất là lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C) là một loại cholesterol có hại và lipoprotein tỷ trọng cao (HDL-C) là một loại cholesterol có ích.

Rối loạn lipid máu là nguyên nhân chủ yếu của vữa xơ động mạch, là hiện tượng dày và cứng lên của thành các động mạch có khẩu kính lớn và trung bình. Trước hết vữa xơ động mạch do tổn thương các tế bào nội mạc, làm cho các tế bào đó mất chức năng bảo vệ thành mạch.  Tổn thương có thể do ảnh hưởng của dòng máu có áp lực cao liên tục tác động đến như trong bệnh tăng huyết áp, do ảnh hưởng của thuốc lá, một số thuốc và hóa chất, thức ăn, rối loạn lipid máu, nhiễm khuẩn và virut, các yếu tố miễn dịch...

Bên cạnh việc góp phần tạo ra các mảng xơ vữa gây hẹp động mạch vành, tăng cholesterol máu có thể làm tổn thương lớp nội mạc. Chính vì thế lý giải vì sao tăng cholesterol máu lại đóng vai trò quan trọng đến như vậy trong quá trình hình thành mảng xơ vữa gây tắc hẹp động mạch vành.

Thay đổi chế độ ăn không phải là yếu tố quyết định làm giảm cholesterol máu

Điều trị tăng cholesterol máu đầu tiên là phải thay đổi chế độ ăn. Ăn giảm chất béo bão hoà và ăn giảm cholesterol. Không may, chế độ ăn này chỉ làm giảm nhẹ nồng độ cholesterol máu ở hầu hết mọi người và nồng độ cholesterol của họ vẫn còn quá cao. Do vậy, bệnh nhân thường nản lòng. "Tôi đã ăn kiêng mỡ, ít cholesterol, nhưng nồng độ cholesterol của tôi không giảm đi nhiều như tôi mong muốn. Tôi phải làm gì đây? "Nhiều bác sĩ đã trả lời rằng bệnh nhân cần sử dụng thuốc giảm lipid máu cho suốt quãng đời còn lại. Vấn đề là các thuốc giảm lipid máu khá đắt và cũng có những tác dụng phụ. Ngược lại, nếu thay đổi chế độ ăn và lối sống một cách toàn diện thì không những làm giảm nồng độ cholesterol máu mà còn làm hồi phục tim mạch. Cơ thể tự tạo tất cả các cholesterol mà chúng cần, cho dù chúng ta không ăn một chút cholesterol nào và cho dù chúng ta ăn giảm chất béo bão hòa. Trên thực tế, 3/4 lượng cholesterol có trong máu là do cơ thể tự tạo ra.

Tắc nghẽn động mạch vành do mảng xơ vữa.

Bên cạnh các thuốc còn có một số chất có thể làm giảm lipid máu đến một mức độ nào đó như cỏ linh lăng, vỏ cây mã đề. Ăn tỏi cũng giúp làm giảm cholesterol đến một mức độ nào đó. Ăn cám yến mạch và cám gạo cũng là những cách phổ biến khác giúp làm giảm cholesterol máu. Thay vì hạn chế lượng chất béo bão hoà và cholesterol trong chế độ ăn, nhiều người tin rằng ăn cám yến mạch hay những chất xơ hoà tan sẽ có thể bảo vệ được họ một cách kỳ diệu và làm giảm nồng độ cholesterol máu xuống. Người ta sử dụng chúng như lá bùa để bảo vệ họ khỏi bị mắc các bệnh tim mạch thay vì thay đổi lối sống.

Các bác sĩ thường chỉ kê đơn thuốc làm giảm cholesterol máu cho những người không muốn thay đổi lối sống hay những người đã thay đổi lối sống rồi nhưng nồng độ lipid còn cao hơn mục tiêu điều trị. Thay đổi lối sống không tốn kém và đặc biệt là không có tác dụng phụ. Ngoài việc làm giảm nồng độ cholesterol trong máu, nó còn giúp làm cải thiện tâm lý và tinh thần của người bệnh tim mạch.

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuấn

(ANTĐ) - TS. Hoàng Quốc Toàn, Chủ nhiệm Khoa Phẫu thuật Lồng ngực-Tim mạch, BV Trung ương Quân đội 108 cho biết, các bác sĩ của BV này vừa thực hiện 3 phẫu thuật phức tạp trên cùng 1 bệnh nhân bị bệnh tim rất nặng.

Bệnh nhân là Đặng Thị Nụ, 53 tuổi (Hồng Giang, Đông Hưng, Thái Bình) được chuyển đến BV trong tình trạng cùng lúc bị 3 bệnh ở tim: hẹp hở van hai lá do thấp, hẹp 75% động mạch liên thất, kèm theo rung nhĩ loạn nhịp tim nặng, suy tim độ 3, tim to... có thể tử vong bất cứ lúc nào. Theo TS Toàn, với tình trạng của bệnh nhân, nếu chỉ thay van hai lá, làm cầu nối động mạch vành (2 kỹ thuật nặng) thì vẫn không hiệu quả, bệnh nhân vẫn đứng trước nguy cơ tử vong cao. Qua rất nhiều hội chẩn, cuối cùng các bác sĩ quyết định kết hợp 2 phương pháp này với kỹ thuật điều trị rung nhĩ bằng sóng cao tần theo phương pháp Cox - Maze trong 1 lần phẫu thuật để chữa trị cho bệnh nhân. Sau 5 giờ thực hiện, bệnh nhân chỉ phải truyền 500ml huyết tương và 300ml máu toàn phần, ca mổ đã thành công tốt đẹp.

Hiện tại, sức khỏe của bệnh nhân Nụ đã ổn định, tim hết đập gấp, hết đau, không còn tức ngực, khó thở... và dự kiến trong ngày hôm nay (18-11) bệnh nhân sẽ được xuất viện. Các chuyên gia nhận định, thành công của ca bệnh này mở ra một tương lai điều trị mới cho các bệnh nhân cùng lúc bị các bệnh lý về tim phức tạp.

Nguyễn Phan

Ông Ian Bradley, 60 tuổi ở Wellesbourne, Warwickshire, Anh có một khối u não kích cỡ bằng đồng xu đã được các bác sĩ tiến hành phẫu thuật cắt bỏ theo phương pháp mới, không cần phải mổ rạch như trước.

Các bác sĩ đã tiến hành chèn một móc nhỏ lên lỗ mũi của ông Ian và kéo khối u ở phía trước não ra qua mũi mà không cần phẫu thuật mở.

Bệnh nhân được phẫu thuật lấy khối u não qua mũi - nguồn Dailymail

Ca phẫu thuật được diễn ra trong vòng 6 giờ đồng hồ và các bác sĩ đã cắt bỏ thành công khối u cũng như một phần xương bị khối u ăn lan.

Nhờ vào kĩ thuật tiến tiến này đã mà bệnh nhân đã tránh được những rủi ro trong phẫu thuật theo như phương pháp mổ thông thường là mổ phanh hộp sọ.

Ông Ian cho biết: “lúc đầu khi các bác sĩ đề nghị tôi phẫu thuật theo phương pháp mới, tôi cảm thấy lo lắng và không tin tưởng nhiều song ca phẫu thuật đã thành công và tôi mừng vì không phải mổ rạch hộp sọ ra.

Thật ngạc nhiên là các bác sĩ lại có thể cắt bỏ được khối u qua mũi tôi”.

Ông Ian liên tục hắt hơi và bắt đầu chảy máu mũi khi phát bệnh. Khi đến khám tại bênh viện trường Đại học Coventry, các bác sĩ đã phát hiện ra một khối u lạ ở đáy não và buộc phải cắt bỏ khối u trước khi quá muộn.

Trong quá trình làm phẫu thuật, các bác sĩ còn phát hiện khối u này đã ăn lan sang một phần xương đầu, gần với khướu giác, vì vậy họ quyết định sẽ cắt bỏ luôn cả phần xương đã bị ảnh hưởng này.

Ông Ian chỉ mất 2 ngày nằm viện sau phẫu thuật - nguồn Dailymail

Sau ca phẫu thuật, ông Ian mất đi khả năng khướu giác song ông vẫn cảm thấy may mắn vì đã loại bỏ được khối u một cách an toàn và không ảnh hưởng về sau này. Bệnh nhân chỉ phải nằm viện 2 ngày sau phẫu thuật để theo dõi

Bác sĩ Gary Walton, người trực tiếp tiến hành ca phẫu thuật cho ông Ian cho biết, nhờ vào công nghệ vượt bậc này mà ông Ian đã được cắt bỏ khối u trong não mà không cần phải mổ rạch và để lại sẹo trên mặt.

Hơn nữa, các bệnh nhân cũng hối phục nhanh chóng sau mổ, không mất nhiều thời gian để liền vết mổ.

Hà Thư (Theo Dailymail)

RIVAROXABAN ƯU ĐIỂM HƠN SO VỚI ĐIỀU TRỊ THÔNG THƯỜNG TRONG ĐIỀU TRỊ  HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH SÂU

Tại hội nghị Hội tim mạch Châu Âu (European Society of Cardiology) 31/8/2010 ở Stockholm, Thụy Điển, Bác sĩ Harry R Bullter (Trung tâm nghiên cứu y khoa, Amsterdam, Hà Lan) đã báo cáo kết quả nghiên cứu EINSTEIN-DVT cho thấy rivaroxaban (Xarelto, Bayer/Johnson & Johnson), một thuốc kháng đông đường uống, ức chế yếu tố Xa, không thua kém so với điều trị nội khoa chuẩn trong điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu cấp có triệu chứng.

Điều trị nội khoa chuẩn vẫn có hiệu quả nhưng bất tiện, do đòi hỏi khởi đầu phải tiêm dưới da heparin trọng lượng phân tử thấp rồi tiếp sau đó bằng warfarin.

Nghiên cứu gồm có 3449 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên hoặc điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu chuẩn với 5 ngày tiêm dưới da heparin trọng lượng phân tử thấp (Lovenox), sau đó dùng đối kháng vitamin K (warfarin hoặc acenocoumarol), điều chỉnh liều để duy trì INR 2,0 - 3,0; hoặc điều trị bằng rivaroxaban 15mg/ 2 lần trong ngày x 3 tuần, sau đó 20mg/1lần trong ngày. Thời gian điều trị là 3, 6 hoặc 12 tháng tùy theo đánh giá của bác sĩ điều trị.

Tiêu chí hiệu quả chính là biến cố huyết khối thuyên tắc tĩnh mạch có triệu chứng đầu tiên, xảy ra 2,1% ở nhóm dùng rivaroxaban (n=1731), so với 3% ở nhóm điều trị thông thường (n=1718), với HR 0,68 (95% CI 0,44-1,04).

Sự phối hợp của tiêu chí hiệu quả chính với chảy máu lớn thấp hơn ở nhóm dùng rivaroxaban 2,9% so với nhóm điều trị thông thường 4,2%, với HR 0,67. Điều này cho thấy hiệu quả lâm sàng rõ ràng của rivaroxaban so với điều trị chuẩn.

Buller cũng cho biết không có dấu hiệu của tổn thương gan khi dùng rivaroxaban. Tác giả kết luận "phác đồ dùng một thuốc mà không cần theo dõi này sẽ đem đến cho thầy thuốc và bệnh nhân một tiếp cận đơn giản trong điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu và có xu hướng cải thiện tỷ lệ lợi ích/nguy cơ".

(Lisa Nainggolan, Heartwire)

 

MỠ MÀNG NGOÀI TIM LÀ YẾU TỐ TIÊN ĐOÁN ĐỘC LẬP RUNG NHĨ

Theo kết quả nghiên cứu chụp cắt lớp điện toán 273 bệnh nhân được đăng tải ngày 31/8/2010 trên Tạp chí Trường môn tim mạch Hoa Kỳ (Journal of the American College of Cardiology) cho thấy mỡ màng ngoài tim có thể là một yếu tố nguy cơ gây rung nhĩ.

Béo phì trung tâm có liên quan với rung nhĩ, tuy nhiên, mối liên hệ giữa béo phì nội tạng và rung nhĩ thì chưa được chứng minh. Viêm được xem như là một yếu tố nguy cơ rung nhĩ. Mỡ màng ngoài tim đóng một vài trò trung tâm trong bệnh sinh bệnh lý tim mạch qua trung gian các đặc tính viêm của nó. Để làm sáng tỏ mỡ màng ngoài tim có liên quan trực tiếp với rung nhĩ hay không, Obadah Al Chekakie (Đại học Loyola, Chicago) và cộng sự thực hiện nghiên cứu đo thể tích mỡ màng ngoài tim qua chụp cắt lớp điện toán 273 bệnh nhân gồm có 76 bệnh nhân nhịp xoang, 126 bệnh nhân rung nhĩ kịch phát, và 71 bệnh nhân rung nhĩ dai dẳng.

Bệnh nhân rung nhĩ có nhiều mỡ màng ngoài tim, được xác định qua mô mỡ khoang màng ngoài tim, hơn bệnh nhân nhịp xoang (trung bình 101,6ml so với 76,1ml; p < 0,001). Bệnh nhân rung nhĩ kịch phát có thể tích mỡ màng ngoài tim trung bình cao hơn bệnh nhân nhịp xoang (93,9ml so với 76,1ml; p=0,02), và rung nhĩ dai dẳng có thể tích màng ngoài tim trung bình nhiều hơn rung nhĩ kịch phát (115,4ml so với 93,9ml; p=0,001).

Kết quả cho thấy có sự tương quan giữa độ nặng rung nhĩ và thể tích mỡ màng ngoài tim, với nguy cơ rung nhĩ tăng khoảng 13% cho tăng mỗi 10ml thể tích mỡ màng ngoài tim. Tuy nhiên, các tác giả lưu ý rằng nghiên cứu không thiết kế để xác định mỡ màng ngoài tim tăng là nguyên nhân hoặc hậu quả của rung nhĩ.

Thể tích mỡ màng ngoài tim liên quan rung nhĩ kịch phát (odds ratio 1,11; p=0,04) và rung nhĩ dai dẳng (odds ratio 1,18; p=0,004), và sự liên quan này hoàn toàn độc lập với tuổi, tăng huyết áp, giới, lớn nhĩ trái, bệnh van tim, phân suất tống máu thất trái, đái tháo đường, và chỉ số khối cơ thể.

Nhóm nghiên cứu đang triển khai kế hoạch khẳng định sự liên quan giữa rung nhĩ và mỡ màng ngoài tim trong một nghiên cứu tiền cứu. Các tác giả cũng nghiên cứu cơ chế phân tử để tìm hiểu mỡ màng ngoài tim ảnh hưởng đến rung nhĩ như thế nào.

(Reed Miller, Heartwire)

 

LIỀU TẢI CLOPIDOGREL DÙNG TRONG PHÒNG THÔNG TIM CÓ HIỆU QUẢ TƯƠNG ĐƯƠNG VỚI DÙNG TRƯỚC KHI CHỤP MẠCH VÀNH

Nghiên cứu mới được công bố từ Tiến sĩ Germano Di Sciascio và cộng sự, Rome, Ý cho thấy, kết quả của can thiệp động mạch vành qua da thì tương đương khi liều tải clopidogrel được cho trong phòng thông tim trước khi can thiệp so với dùng liều tải 4-8 giờ trước khi chụp mạch vành. Cũng theo nhóm nghiên cứu, dùng liều tải clopidogrel trong phòng thông tim sau khi có kết quả chụp mạch vành thì an toàn, không làm tăng các biến chứng của thiếu máu cục bộ và dùng liều tải trước khi chụp mạch vành cũng không làm tăng biến chứng xuất huyết.

Khuyến cáo hiện tại của Hội tim mạch Hoa Kỳ/Trường môn tim mạch Hoa Kỳ và Hội chụp mạch vành và thông tim can thiệp đề nghị dùng clopidogrel với liều từ 300 - 600mg càng sớm càng tốt trước khi can thiệp mạch vành qua da (PCI), trong khi Hội tim mạch Châu Âu đề nghị dùng liều tải clopidogrel 300mg ít nhất 6 giờ trước thủ thuật PCI.  Sự chưa thống nhất giữa các khuyến cáo cũng được nhóm nghiên cứu đề cập. Tiến sĩ Germano Di Sciascio và cộng sự cho rằng, có rất nhiều chiến lược dùng clopidogrel khác nhau trên lâm sàng, nhất là ở nhóm bệnh nhân được lên kế hoạch chụp mạch vành chẩn đoán theo chương trình. Một số trung tâm thích dùng liều tải trước khi chụp mạch vành cho tất cả bệnh nhân chụp mạch vành chẩn đoán. Chiến lược này làm gia tăng nguy cơ xuất huyết cho một số bệnh nhân. Ngược lại, các trung tâm khác thích chờ đến khi có kết quả chụp mạch vành để có hướng điều trị thích hợp cho bệnh nhân (can thiệp mạch vành qua da, phẫu thuật bắc cầu động mạch vành hoặc điều trị nội khoa) rồi mới cho clopidogrel trong phòng thông tim, trước khi can thiệp. Chiến lược "chờ và nhìn - wait and see" này tránh được nguy cơ xuất huyết không cần thiết ở bệnh nhân mà phẫu thuật bắc cầu động mạch vành hoặc điều trị nội khoa thích hợp hơn PCI. Nghiên cứu PRAGUE-8 đã đăng trên Heartwire vài năm trước đây cho thấy, dùng clopidogrel thường quy trước khi chụp mạch vành cho các bệnh nhân bệnh mạch vành mạn ổn định làm tăng nguy cơ xuất huyết và thất bại trong việc làm giảm các biến cố thiếu máu cục bộ trước thủ thuật.

Trước tình hình trên, nhóm nghiên cứu của Tiến sĩ Germano Di Sciascio đã thực hiện một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, có đối chứng để so sánh hiệu quả và tính an toàn của dùng liều tải clopidogrel 600mg trong phòng thông tim sau khi có kết quả chụp mạch vành và trước khi can thiệp với dùng thường quy liều tải clopidogrel 600mg trước khi chụp mạch vành 4-8 giờ.

Nghiên cứu đã thu dung được 409 bệnh nhân tại 3 trung tâm của nước Ý với các đặc điểm lâm sàng và nhân chủng học thì tương tự nhau ở cả 2 nhóm. Kết quả ban đầu cho thấy, tần suất của các biến cố tim mạch nặng trong vòng 30 ngày (gồm tử vong tim mạch, nhồi máu cơ tim hoặc tái lưu thông mạch máu không được tiên đoán trước) là 8,8% (18 trên 205 bệnh nhân) ở nhóm dùng liều tải clopidogrel trong phòng thông tim so với 10,3% (21 trên 204 bệnh nhân) ở nhóm dùng liều tải clopidogrel trước khi chụp mạch vành. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p = 0,72.

Về biến cố xuất huyết, không có trường hợp nào bị xuất huyết nặng. Ở nhánh dùng clopidogrel trong phòng thông tim, xuất huyết nhẹ được ghi nhận ở 11 bệnh nhân và ở nhánh dùng clopidogrel trước khi chụp mạch vành, có 16 bệnh nhân bị xuất huyết nhẹ. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Kết quả đo lường hoạt tính tiểu cầu cho thấy, nhóm bệnh nhân dùng clopidogrel trong phòng thông tim có hoạt tính tiểu cầu cao hơn trong lúc can thiệp và 2 giờ sau can thiệp so với nhóm dùng trước khi chụp mạch vành.

Từ các kết quả trên, nhóm nghiên cứu đã đưa ra kết luận là dùng clopidogrel trong phòng thông tim khi cần thiết là một chiến lược thay thế an toàn và hiệu quả cho việc dùng liều tải clopidogrel vài giờ trước chụp mạch vành, khi chưa biết giải phẫu mạch vành của bệnh nhân. Ngoài ra, Tiến sĩ Germano Di Sciascio và cộng sự cũng cho rằng việc phân tầng nguy cơ của bệnh nhân là quan trọng. Cho liều tải trước khi chụp mạch vành dường như không cần thiết ở bệnh nhân có nguy cơ can thiệp thấp nhưng ở người có nguy cơ can thiệp cao, nhất là bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp thì việc dùng liều tải trước khi chụp mạch vành theo như khuyến cáo của các hướng dẫn thì khá an toàn.

Tiến sĩ Goran Stankovic và Tiến sĩ Milorad Zivkovic của Đại học y khoa Belgrade, Serbia, cho rằng, cần nghiên cứu nhiều hơn nữa trước khi đưa ra khuyến cáo dùng clopidogrel trong phòng thông tim có hiệu quả tương đương với dùng clopidogrel trước khi chụp mạch vành cho tất cả bệnh nhân do một số hạn chế của nghiên cứu như không có sự đồng nhất về dân số nghiên cứu với 60% có bệnh mạch vành mạn và 40% có bệnh mạch vành cấp...

 

NỒNG ĐỘ CHOLESTEROL Ở PHỤ NỮ THAY ĐỔI THEO CHU KỲ KINH NGUYỆT

Các nhà nghiên cứu của Viện Sức Khỏe Quốc Gia Hoa Kỳ cho rằng, nồng độ cholesterol ở phụ nữ biến thiên tương ứng với sự thay đổi hàng tháng của nồng độ estrogen. Cũng theo các nhà nghiên cứu, nên để ý đến thời điểm lấy máu ở giai đoạn nào của chu kỳ kinh nguyệt trước khi đưa ra kết luận về bi lan lipid máu của người phụ nữ. Tính trung bình, nồng độ cholesterol máu thay đổi 19% theo chu kỳ kinh nguyệt.

Nghiên cứu đã thu dung 259 phụ nữ từ 18 đến 44 tuổi với 94% là người tình nguyện. Phần lớn là những người khỏe mạnh và không hút thuốc lá. Kết quả được đăng trên tạp chí nội tiết lâm sàng và chuyển hóa(1). Nhóm nghiên cứu nhận thấy sự tăng nồng độ cholesterol trước khi rụng trứng có ảnh hưởng nhất định đến những phụ nữ đã bị tăng cholesterol máu. Các tác giả cũng đề cập đến một thực tế là những nhà lâm sàng thường lặp lại xét nghiệm bi lan lipid máu để kiểm tra tính xác thực khi nồng độ cholesterol máu cao. Tuy nhiên, theo nhóm nghiên cứu, điều này không cần thiết khi thời điểm lấy máu là vào cuối chu kỳ kinh nguyệt.

Ở một chu kỳ kinh nguyệt điển hình, nồng độ estrogen tăng dần theo sự tăng trưởng của trứng, đạt đỉnh điểm là ngay trước khi rụng trứng. Các nghiên cứu trước đây cho thấy, khi dùng những chế phẩm có chứa estrogen như các viên thuốc ngừa thai hoặc hormone liệu pháp sau tuổi mãn kinh cũng ảnh hưởng đến nồng độ cholesterol. Tuy nhiên, các nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của estrogen nội sinh trên nồng độ cholesterol vẫn chưa đưa ra được kết luận. Theo Viện Tim, Phổi và Huyết học Hoa Kỳ, nồng độ cholesterol máu tăng cao sẽ làm tăng nguy cơ bị bệnh tim.

Nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy, khi nồng độ estrogen tăng thì HDL-cholesterol cũng tăng, cao nhất ngay lúc rụng trứng. Đây là loại cholesterol tốt, có tác dụng bảo vệ chống lại bệnh lý tim mạch.

Ngược lại, sau khi rụng trứng, cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol và triglyceride giảm khi nồng độ estrogen tăng. Việc này xảy ra từ từ, bắt đầu một vài ngày sau khi estrogen đạt mức tối đa và đạt mức thấp nhất ngay trước khi hành kinh (xem hình 1).

Hình 1: "Sự biến thiên của cholesterol toàn phần theo estrogen trong chu kỳ kinh nguyệt": Nồng độ cholesterol toàn phần ở phụ nữ tăng khi nồng độ estrogen tăng lên, giảm nhẹ trước khi rụng trứng và sụt giảm nhanh hơn sau khi đã rụng trứng

Tiến sĩ Sunni Mumford và cộng sự(2)- Đại học Bắc Carolina cũng đưa ra khuyến cáo: Cần nghiên cứu thêm để xác định thời điểm thích hợp đo nồng độ cholesterol máu trong chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ nhằm giúp các nhà lâm sàng có được kết quả tối ưu về bi lan lipid máu và phân tầng nguy cơ bệnh tim mạch cho họ.

(Nguồn: http://www.nih.gov/news/health/aug2010/nichd-10.htm)

 

HỘI TIM MẠCH CHÂU ÂU ĐƯA RA KHUYẾN CÁO MỚI VỀ ĐIỀU TRỊ TÁI ĐỒNG BỘ TIM TRONG SUY TIM MỨC ĐỘ NHẸ

Hướng dẫn mới của Hội Tim mạch Châu Âu (European Society of Cardiology) năm 2010 đã mở rộng khuyến cáo (nhóm I /mức chứng cứ A) về điều trị tái đồng bộ tim (cardiac resynchronization therapy: CRT) không chỉ đối với suy tim NYHA độ III/IV mà cả trong suy tim mức độ "nhẹ" NYHA độ II.

Khuyến cáo nhóm I/ mức chứng cứ A đối với suy tim NYHA độ II nhằm ngăn chặn diễn tiến suy tim hơn là "giảm tỷ lệ bệnh tật hoặc tỷ lệ tử vong" như đối với NYHA độ III/IV. Khuyến cáo này dựa trên các nghiên cứu có kiểm soát, ngẫu nhiên như nghiên cứu REVERSE, đặc biệt là nghiên cứu MADIT-CRT, gồm các bệnh nhân NYHA độ I/II và cho thấy CRT cải thiện đáng kể tỷ lệ nhập viện hoặc tử vong do suy tim.

Chỉ định CRT ở bn suy tim theo hướng dẫn của Hội Tim mạch Châu Âu năm 2010

Khuyến cáo

Đối tượng bệnh nhân

Nhóm/mức chứng cứ

CRT-P/CRT-D được khuyến cáo nhằm làm giảm tỷ lệ bệnh tật/tỷ lệ tử vong.

NYHA độ III/IV, phân suất tống máu ≤ 35%, QRS ≥ 120ms, nhịp xoang, điều trị nội khoa tối ưu.

(bệnh nhân NYHA độ IV thì đã 1 tháng không nhập viện do suy tim và có hy vọng sống > 6 tháng)

I A

CRT (nên chọn CRT-D) được khuyến cáo nhằm làm giảm tỷ lệ bệnh tật hoặc dự phòng tiến triển của bệnh.

NYHA độ II, phân suất tống máu ≤ 35%, QRS ≥ 150ms, nhịp xoang, điều trị nội khoa tối ưu.

I A

CRT-P/CRT-D nên được xem xét nhằm làm giảm tỷ lệ bệnh tật.

Rung nhĩ vĩnh viễn, phụ thuộc vào máy tạo nhịp do cắt đốt nút nhĩ thất, NYHA độ III/IV, phân suất tống máu ≤ 35%, QRS ≥ 130ms.

IIa B

CRT-P/CRT-D nên được xem xét nhằm làm giảm tỷ lệ bệnh tật.

Rung nhĩ vĩnh viễn, tần số thất thấp và ≥ 95% cần máy tạo nhịp, NYHA độ III/IV, phân suất tống máu ≤ 35%, QRS ≥ 130ms.

IIa C

CRT-P/CRT-D được khuyến cáo nhằm làm giảm tỷ lệ bệnh tật.

Chỉ định đặt máy tạo nhịp nhóm I, NYHA độ III/IV, phân suất tống máu ≤ 35%, QRS ≥ 120ms.

I B

CRT-P/CRT-D nên được xem xét nhằm làm giảm tỷ lệ bệnh tật.

Chỉ định đặt máy tạo nhịp nhóm I, NYHA độ III/IV, phân suất tống máu ≤ 35%, QRS < 120ms.

IIa C

CRT-P/CRT-D nên được xem xét nhằm làm giảm tỷ lệ bệnh tật.

Chỉ định đặt máy tạo nhịp nhóm I, NYHA độ II,  phân suất tống máu ≤ 35%, QRS < 120ms.

IIb C

 

THUỐC KHÁNG VIÊM NONSTEROID (NSAID) LÀM TĂNG NGUY CƠ ĐỘT QUỴ Ở NGƯỜI KHỎE MẠNH

Kết quả từ một nghiên cứu bao gồm những người Đan Mạch khỏe mạnh cho thấy: Sử dụng ngắn hạn các thuốc kháng viêm nonsteroid (NSAID) có liên quan với nguy cơ đột quỵ gia tăng. Trong buổi báo cáo tại Hội nghị tim mạch Châu Âu năm 2010, Tiến sĩ Gunnar Gislason (Bệnh viện đại học Gentofte, Hellerup, Đức) cho rằng, kết quả này có tầm quan trọng đặc biệt đối với sức khỏe của cộng đồng.

Theo tiến sĩ Gislason: Chúng ta đã biết là nguy cơ nhồi máu cơ tim gia tăng ở những người sử dụng NSAID. Hiện tại, nhóm nghiên cứu cũng ghi nhận có sự gia tăng nguy cơ bị đột quỵ ở những người sử dụng NSAID. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng bởi vì NSAID được sử dụng rộng rãi và có sẵn dưới dạng thuốc không cần kê toa. Thông tin này cần được truyền tải đến các nhân viên y tế để việc quản lý các thuốc NSAID được chặt chẽ hơn.

Cùng quan điểm với nhận định trên, Tiến sĩ Robert Califf, Viện Nghiên Cứu lâm sàng Duke, Durham, Chủ tọa của buổi hội thảo cho rằng: Tăng nguy cơ bị đột quỵ ở những người sử dụng NSAID là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng, đặc biệt ở Hoa Kỳ vì nhiều thuốc NSAID có sẵn mà không cần kê toa.

Trong nghiên cứu này, Gislason và cộng sự đã xem xét mối liên hệ giữa nguy cơ đột quỵ và việc sử dụng NSAID ở những người khỏe mạnh đang sống ở Đan Mạch. Thông tin từ nhóm nghiên cứu cho thấy, hồ sơ y khoa của mỗi người dân Đan Mạch được lưu trữ trong các quyển đăng ký sổ bộ quốc gia. Đối tượng được đưa vào nghiên cứu gồm những người Đan Mạch trên 10 tuổi. Để chọn người khỏe mạnh, các tác giả đã loại ra khỏi nghiên cứu những người có nhập viện trong vòng 5 năm qua hoặc những người đã dùng thuốc điều trị các bệnh mạn tính trên 2 năm. Khoảng nữa triệu dân đã tham gia vào nghiên cứu. Dựa vào quyển sổ bộ, các tác giả tìm thấy 45% những người khỏe mạnh trong nghiên cứu dùng ít nhất 1 toa thuốc có NSAID từ năm 1997 đến năm 2005. Sau đó, nhóm nghiên cứu đã dựa vào dữ kiện đột quỵ từ các bệnh viện chuyên khoa và sổ đăng ký tử vong để tìm mối liên hệ giữa nguy cơ đột quỵ gây tử vong và không tử vong với việc sử dụng NSAID.

Kết quả cho thấy, sử dụng NSAID làm tăng nguy cơ đột quỵ từ 30% với Ibuprofen và Naproxen đến 86% với Diclofenac (Bảng 1).

Bảng 1: Nguy cơ đột quỵ liên quan với các loại NSAID khác nhau

NSAID

Nguy cơ đột quỵ kèm khoảng tin cậy 95%

Ibuprofen

1.28 (1.14-1.44)

Diclofenac

1.86 (1.58-2.19)

Rofecoxib

1.61 (1.14-2.29)

Celecoxib

1.69 (1.11-2.26)

Naproxen

1.35 (1.01-1.79)

Theo Tiến sĩ Gislason, có sự liên quan giữa liều NSAID và nguy cơ đột quỵ. Nguy cơ đột quỵ là 90% (HR = 1.9) với liều Ibuprofen là 200mg và tăng lên 100% (HR = 2) với liều Diclofenac trên 100mg. Cũng theo nhóm nghiên cứu, kết quả này như một hồi chuông báo động bởi vì nghiên cứu được thực hiện ở người khỏe mạnh. Tuy nhiên, các tác giả cũng thừa nhận kết quả bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố gây nhiễu mặc dù số liệu đã được kiểm soát về tuổi, giới, tình trạng kinh tế-xã hội và mẫu nghiên cứu không có người bị bệnh mạn tính. Nhóm nghiên cứu cũng cho rằng, kết quả này không quá gây ngạc nhiên bởi vì ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy nguy cơ nhồi máu cơ tim gia tăng với NSAID và có lẽ cơ chế làm tăng nguy cơ nhồi máu não cũng tương tự. Có một số giả thuyết về cơ chế liên kết giữa NSAID và các biến cố tim mạch như tăng tạo huyết khối do những tác dụng trên tiểu cầu, nội mạc và các mảng xơ vữa ở thành mạch; tăng huyết áp; những ảnh hưởng trên thận và giữ muối. Tiến sĩ Gislason cũng cho rằng, các thầy thuốc chưa sẵn sàng trong việc hạn chế kê toa thuốc NSAID. Đó là do chúng ta chưa có các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên nên rất khó thay đổi thói quen của thầy thuốc. Trong nhiều thập niên qua, các thầy thuốc đã sử dụng NSAID mà ít chú ý đến  tác dụng phụ trên hệ tim mạch.

Tiến sĩ Gislason cũng nhấn mạnh: Cần phải bảo vệ người dân bằng cách kiểm soát việc dùng thuốc NSAID. Đây phải là thuốc bán theo toa và điều này đã có được thành công nhất định, ít ra là ở Đan Mạch: Trước đây, Diclofenac là thuốc bán không cần toa nhưng hiện tại, đây là thuốc chỉ bán theo toa sau khi có một số thông tin về NSAID và nguy cơ nhồi máu cơ tim. Nhóm nghiên cứu cũng lưu ý là ở Hoa Kỳ, hiện có sẵn rất nhiều thuốc NSAID không cần kê toa.

Các tác giả cũng đề cập là tác dụng của NSAID có ảnh hưởng trên một dân số rộng lớn: "Nếu một nửa dân số uống thuốc này, thậm chí chỉ thỉnh thoảng nhưng nguy cơ đột quỵ có thể tăng lên 50-100% và điều này là đáng sợ"

Kết quả từ nghiên cứu này đã được đăng trên Circulation:"Cardiovascular Quality and Outcomes" đầu năm nay. Nhóm nghiên cứu đang tiếp tục tìm hiểu mối liên hệ giữa nguy cơ đột quỵ và thời gian dùng thuốc.

(Theo Medscape: NSAID use associated With future Stroke in Healthy Population http://www.medscape.com/viewarticle/728205).

HƯỚNG DẪN RIÊNG ĐẦU TIÊN CỦA CHÂU ÂU VỀ RUNG NHĨ

Hội Tim mạch Châu Au (European Society of Cardiology: ESC) đã giới thiệu khuyến cáo mới về xử trí rung nhĩ. Bác sĩ A John Camm (Đại học London, Anh quốc), trưởng ban soạn thảo, cho rằng đây là lần đầu tiên Châu Au có một hướng dẫn riêng về rung nhĩ. Hướng dẫn này - có sự phối hợp của Hội Nhịp tim Châu Au (European Heart Rhythm Association: EHRA) và sự đồng thuận của Hội Phẫu thuật Tim-Lồng ngực Châu Au (European Association for Cardio-Thoracic Surgery: EACTS) - có nhiều điểm khác biệt so với khuyến cáo được giới thiệu năm 2006 (ESC&AHA&ACC).

Điểm nổi bật của khuyến cáo mới là giới thiệu thang điểm theo triệu chứng của rung nhĩ; thêm khái niệm rung nhĩ dai dẳng kéo dài (long-standing persistent AF); phương pháp phân loại nguy cơ để xác định bệnh nhân hưởng lợi ích nhất từ các thuốc kháng đông mới trong dự phòng đột quỵ; hướng dẫn mới về kiểm soát tần số, cách thức sử dụng thuốc chống loạn nhịp dronedarone (Multag, Sanofi-Aventis); các chỉ định chính thức điều trị cắt đốt; các khuyến cáo điều trị "tận gốc" ("upstream") để ngăn chặn phát sinh hoặc tái phát rung nhĩ; và xử trí rung nhĩ trong một số "tình huống đặc biệt".

Hội Tim mạch Châu Au đưa ra thang điểm mới theo triệu chứng do rối loạn nhịp tim, giống như phân độ NYHA trong suy tim. Thang điểm này gọi là thang điểm EHRA. Bác sĩ Camm cho biết thang điểm này được đưa ra để mô tả rõ nhất tình trạng triệu chứng của bệnh nhân, bởi vì hầu hết điều trị rung nhĩ phụ thuộc triệu chứng.

Thang điểm EHRA theo triệu chứng của rung nhĩ

EHRA I:            'Không có triệu chứng'

EHRA II:            'Triệu chứng nhẹ'; hoạt động thường ngày không bị ảnh hưởng

EHRA III:           'Triệu chứng nặng'; hoạt động thường ngày bị ảnh hưởng

EHRA IV:                'Triệu chứng tàn phế'; mất khả năng hoạt động thường ngày

Ngoài phân loại rung nhĩ như hiện tại gồm: rung nhĩ kịch phát (nhỏ hơn 7 ngày); rung nhĩ dai dẳng (7 ngày đến 1 năm); và rung nhĩ vĩnh viễn, có một nhóm mới được thêm vào. Đó là rung nhĩ dai dẳng kéo dài -được định nghĩa là rung nhĩ kéo dài hơn 1 năm. Đây là các đối tượng có chỉ định điều trị cắt đốt.

Điểm mới thứ ba là đưa ra phương pháp đánh giá nguy cơ đột quỵ tốt hơn ở bệnh nhân rung nhĩ. Hướng dẫn này giới thiệu thang điểm CHADS2-VASc với bổ sung vào thang điểm CHADS2 một số yếu tố nguy cơ khác gồm tuổi, bệnh lý mạch máu và giới nữ.

Thang điểm CHADS2-VASc: Suy tim sung huyết (Congestive heart failure): 1đ; Tăng huyết áp (Hypertention): 1đ;  Tuổi ³ 75 (Age³ 75): 1đ; Đái tháo đường (Diabetes): 1đ; Đột quỵ (Stroke): 2đ; Bệnh lý mạch máu (Vascular disease): 1đ; Tuổi 65-74 (Age 65-74): 1đ; Giới tính/nữ (Sex category /female): 1đ.

Hướng dẫn đề cập một số thuốc kháng đông mới trong dự phòng đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ như Dabigatran (Pradaxa, Boehringer Ingelheim), Rivaroxaban (Xarelto, Bayer/Johnson&Johnson), và Apixaban (Bristol-Myers Squibb/Pfizer).

Dựa trên nghiên cứu RACE-2, khuyến cáo lưu ý về kiểm soát tần số thất. Đó là tần số tim lúc nghỉ < 110 lần/phút là hợp lý và không cần đạt tần số tim lúc nghỉ < 80 lần/phút. Ngoài ra, khuyến cáo giới thiệu thuốc chống loạn nhịp mới trong điều trị chuyển nhịp đó là Dronedarone.

Cắt đốt qua ống thông được nhấn mạnh hơn trong điều trị rung nhĩ. Camm cho biết hướng dẫn có những chỉ định chính thức về điều trị cắt đốt mà không có trong khuyến cáo năm  2006 trước đó.

Ban soạn thảo cũng đưa ra hướng dẫn trong một số tình huống đặc biệt như vận động viên bị rung nhĩ. Camm lưu ý đối tượng này được ghi nhận là điều trị bằng thuốc khó khăn, nên đề xuất cách tiếp cận cắt đốt.

Cuối cùng, khuyến cáo cập nhật các hướng dẫn về điều trị "tận gốc" để ngăn chặn phát sinh hoặc tái phát rung nhĩ như ức chế men chuyển, ức chế thụ thể angiotensin và statin.

(Lisa Nainggolan, Heartwire)

 

SỬ DỤNG ÔXY HỢP LÝ TRONG NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP

Trong bài viết đăng tải trên tạp chí Journal of the American College of Cardiology, Bác sĩ Raman Moradkhan và Lawrence Sinoway (Đại học Y khoa Pennsylvania, Hershey, PA) cho rằng cần phải đánh giá lại vai trò của ôxy ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp. Nhiều nghiên cứu đưa ra các kết qủa trái ngược nhau về hiệu qủa của liệu pháp ôxy ở bệnh nhân tim mạch có ôxy máu bình thường và chưa có nghiên cứu đối chứng, mù đôi, ngẫu nhiên chứng minh lợi ích của điều trị này. Thế nhưng, ôxy hiện được sử dụng phổ biến ở bệnh nhân tim mạch, vô tình có thể làm tăng ôxy máu và gây hại.

Hướng dẫn ACC/AHA năm 2007 đưa ra khuyến cáo nhóm I đối với sử dụng ôxy để điều chỉnh rối loạn độ bão hòa ôxy máu (SaO2 nhỏ hơn 90%) và khuyến cáo nhóm IIa cho tất cả bệnh nhân có cơn đau thắt ngực không ổn định/nhồi máu cơ tim ST không chênh và nhồi máu cơ tim ST chênh không biến chứng trong 6 giờ đầu tiên sau khi nhập viện. Sử dụng ôxy sẽ làm giảm tổn thương thiếu máu cơ tim cấp cũng như vùng nhồi máu và do một số bệnh nhân nhồi máu cơ tim không biến chứng có giảm ôxy máu động mạch, hậu quả của ứ dịch trong phổi phối hợp bất tương hợp thông khí - khuếch tán.

Tuy nhiên, theo các tác giả thì không có chứng cứ cho thấy bệnh nhân nhồi máu cơ tim có ôxy máu bình thường được can thiệp động mạch vành qua da hưởng lợi do được bổ sung oxy hoặc ủng hộ sử dụng ôxy thường quy sau can thiệp động mạch vành qua da thành công.

Raman Moradkhan và Lawrence Sinoway nêu các cơ chế gây co động mạch vành do tăng ôxy máu:

(1).     Giảm khả năng sinh học của nitric oxide.

(2).     Trung gian qua đóng kênh K+ATP.

(3).     Tác động trực tiếp trên kênh Ca++ týp L có ở các tế bào cơ trơn mạch máu.

(4).     Thúc đẩy phóng thích endothelin-1 làm tăng trương lực mạch máu.

(5).     Tạo ra chất co mạch 20-HETE.

Raman Moradkhan và Lawrence Sinoway kết luận rằng sử dụng ôxy rõ ràng là đúng và thích hợp để điều trị giảm oxy máu, nhưng cũng cần đặt ra giả thuyết là bổ sung ôxy quá mức ở bệnh nhân tim mạch có nồng độ oxy máu bình thường có thể đưa đến dự hậu xấu. Các hướng dẫn hiện nay về sử dụng ôxy không dựa trên những nghiên cứu đối chứng, mù đôi, ngẫu nhiên. Do vậy, các tác giả đề nghị nên khẩn trương tiến hành các nghiên cứu như vậy để đánh giá chính xác vai trò của oxy liệu pháp trong các tình trạng này.

(Sue Hughes, Heartwire)

(Dân trí) - Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ đã đưa ra cảnh báo đối với các bác sĩ và bệnh nhân về sự gia tăng nguy cơ gãy xương đùi do việc sử dụng đại chà nhóm thuốc “khỏe” xương.
Thuốc chống loãng xương chủ yếu dành cho phụ nữ đã mãn kinh
FDA cho biết những bệnh nhân uống các loại thuốc bisphosphonate có tên thương thương mại như Fosamax và Boniva sẽ có nguy cơ bị gãy xương đùi vốn rất hiếm gặp. Sự đứt gãy này xảy ra ở ngay dưới khớp hông và chiếm ít hơn 1% trong tất cả các trường hợp gãy xương đùi.

 

“Chúng ta biết rằng các loại thuốc này được coi là giúp ngăn ngừa chứng gãy xương do loãng xương. Tuy nhiên, những vỡ gãy mà chúng tôi đang nói tới hôm nay lại rất bất thường và hiếm gặp”, đại diện phát ngôn của FDA về các loại thuốc mới nói.

 

Trong số hơn một nửa trường hợp báo cáo lên FDA, các bệnh nhân thường bị đau nhức dữ dội ở háng trước khi hiện tượng gãy xuất hiện. Và đa phần những trường hợp này là dùng bisphosphonates kéo dài hơn 5 năm (có những bệnh nhân uống tới 15 năm).

 

Hiện không rõ tại sao các loại thuốc này lại gây ra vấn đề trên nhưng FDA cho biết các nhãn thuốc cần cập nhật thông tin này trong hướng dẫn sử dụng như 1 tác dụng phụ tiềm ẩnh. Các nhà sản xuất thuốc cũng có trách nhiệm in các cuốn cẩm nang nhỏ chỉ rõ nguy cơ cho bệnh nhân.

 

Tác dụng của Bisphossphonates là làm chậm sự mất đi của các tế bào xương mà sẽ dẫn tới loãng xương. Các loại thuốc này nằm trong nhóm thuốc phải kê đơn và hơn 5 triệu người (chủ yếu là phụ nữ đã mãn kinh) được kê thuốc này mỗi năm, theo số liệu của FDA.

 

FDA cũng khẳng định bệnh nhân nên tiếp tục uống theo đơn kê của bác sĩ trừ khi bác sĩ đề nghị dừng thuốc.

 

Hiện cũng chưa có bất kỳ hướng dẫn nào về thời hạn dùng thuốc nên tối đa là bao lâu. FDA cho biết họ sẽ tiếp tục xem xép tính an toàn thông tin trên thuốc và sẽ sớm đưa ra các khuyến nghị về việc dùng thuốc này.

 

Nhân Hà

Theo AP

Tổn thương van tim do thấp là một trong những bệnh tim mạch thường gặp nhất ở các nước đang phát triển, nếu không được điều trị tốt sẽ dẫn đến nguy cơ suy tim, thậm chí tử vong. GS.TS. Phạm Gia Khải, Chủ tịch Hội Tim mạch ASEAN cho biết, tổn thương van tim do thấp là một trong những bệnh tim mạch thường gặp nhất ở các nước đang phát triển, nếu không được điều trị tốt sẽ dẫn đến nguy cơ suy tim, thậm chí tử vong. Trong điều kiện hiện nay, cần thiết phải phát triển nhiều tiến bộ để điều trị bệnh lý này.

Nhiều người bị suy tim nặng mới đến bệnh viện chữa trị

Chị Nguyễn Thị Th., 36 tuổi (Hạ Hòa - Phú Thọ) đến Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E trong tình trạng khó thở, mệt mỏi, suy tim nặng.

Theo các bác sĩ, chị Th. bị tổn thương van tim rất nặng dẫn đến tim bị suy. Các biện pháp điều trị nội khoa không còn đáp ứng được, để cứu sống bệnh nhân, các bác sĩ phải tiến hành phẫu thuật thay van tim.

Chị Th. cho biết, chị phát hiện ra hở van tim từ khi mang thai đầu tiên cách đây 7 năm, nhờ có các bác sĩ, chị đã may mắn vượt cạn an toàn và cũng không dám sinh tiếp nữa.

Mặc dù được khuyến cáo phải theo dõi điều trị bệnh thường xuyên nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn, lại ở xa những bệnh viện lớn nên chị ít quan tâm đến bệnh.

Thời gian gần đây, sức khỏe suy sụp nhiều, đến nỗi chỉ đi bộ một quãng đường ngắn cũng khiến chị không thở được chị mới quyết định xuống Hà Nội kiểm tra sức khỏe và thật buồn là bệnh của chị đã biến chứng rất nặng.

PGS.TS. Lê Ngọc Thành - Giám đốc Trung tâm Tim mạch Bệnh viện E cho biết, nhiều người bị bệnh van tim (hẹp/hở van hai lá, van động mạch chủ) đến viện trong tình trạng đã có nhiều biến chứng nặng đe dọa đến tính mạng họ mới tìm đến bệnh viện, lúc này quá trình điều trị phức tạp và tốn kém hơn nhiều. Trong nhiều trường hợp phải có chỉ định phẫu thuật sửa van hoặc thay van mới có thể cứu sống được.

Thấp tim là thủ phạm chính của các bệnh van tim

TS. Phạm Mạnh Hùng - Viện Tim mạch Việt Nam cho biết, đến nay chưa có một điều tra cụ thể nào về tình trạng hẹp van tim trong cộng đồng nhưng số người mắc bệnh này đến bệnh viện điều trị vẫn khá phổ biến. Hẹp van hai lá chủ yếu do hậu quả của thấp tim gây nên.

Thủ phạm dẫn đến thấp tim là nhiễm liên cầu khuẩn beta tan huyết nhóm A. Người ta ước tính có tới 15% trẻ em trong độ tuổi đi học bị nhiễm liên cầu khuẩn beta, trong đó biến chứng sang thấp tim là 3 -5%. Van hai lá và van động mạch chủ là dễ bị tổn thương nhất bởi thấp tim.

Trong đó chủ yếu là hẹp/hở van hai lá dẫn đến những rối loạn về huyết động. Người bệnh có thể sẽ chịu nhiều biến chứng như phù phổi cấp, suy tim nặng, tắc mạch, rối loạn nhịp, suy tim mạn... Nếu hẹp hai lá xảy ra từ trẻ nhỏ thì đó là tình trạng còi cọc, chậm phát triển.

Đối với những sản phụ, các bệnh van tim đe doạ đến tính mạng của cả mẹ và thai nhi trong suốt quá trình mang thai và đặc biệt khi sinh nở nếu không được điều trị và kiểm soát bệnh tốt.



Việt Nam là nước có nhiều thành công về điều trị bệnh van tim

Theo các chuyên gia tim mạch, điều trị cho những bệnh nhân tim mạch liên quan đến nhiễm khuẩn này vẫn còn là gánh nặng trong khi các bệnh lý tim mạch do rối loạn chuyển hóa cũng đang ngày một gia tăng.

Tại những trung tâm tim mạch lớn như Trung tâm Tim mạch (Bệnh viện E), Khoa phẫu thuật tim mạch - lồng ngực (Bệnh viện Việt Đức), các kỹ thuật phẫu thuật sửa van, thay van được tiến hành hoàn hảo cùng sự hỗ trợ của các thiết bị phẫu thuật lồng ngực hiện đại.

Cùng với sự phát triển về nội khoa và phẫu thuật, tim mạch can thiệp cũng khẳng định những ưu thế vượt trội trong điều trị các bệnh lý tim mạch, trong đó nổi bật là về động mạch vành và bệnh van tim.

Với kỹ thuật dùng bóng nong Inoue, chỉ với một vết chích nhỏ (vài milimet) ở tĩnh mạch đùi, bóng nong được đưa vào qua vị trí van bị hẹp, bơm căng bóng làm hai mép van tim bị dính do thấp tim được tách ra và lỗ van được tách rộng ra, giải quyết hiệu quả những rối loạn tuần hoàn mà hẹp van tim gây ra.

Quá trình làm thủ thuật diễn ra trong khoảng 30 phút, người bệnh hoàn toàn tỉnh táo, không phải gây mê, có thể ra viện vào ngày hôm sau.

Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là điều trị cho bệnh nhân bị hẹp hai lá mà bị suy tim nặng (không thể phẫu thuật được); phụ nữ có thai; trẻ em bị hẹp hai lá; bệnh nhân bị hẹp van tim có kèm theo các biến dạng lồng ngực, gù vẹo cột sống...

PGS.TS. Nguyễn Quang Tuấn, Trưởng phòng C4 - Viện Tim mạch Việt Nam cho biết, kỹ thuật này đã trở thành thường quy tại Viện Tim mạch Việt Nam với số người bệnh được điều trị thành công trên 5.000 người, đưa nơi đây thành một trong những trung tâm điều trị hẹp van tim bằng bóng Inoue lớn nhất thế giới và là nơi trao đổi kinh nghiệm cho nhiều quốc gia khác.

Chi phí điều trị tại Việt Nam cũng chỉ bằng 1/6 - 1/10 ở các nước khác. Biện pháp nong van bằng bằng bóng qua da còn được ứng dụng điều trị các bệnh hẹp van tim khác do bẩm sinh hoặc mắc phải như hẹp van động mạch phổi, hẹp van động chủ, hẹp van ba lá...

Thời gian gần đây, trên thế giới đã bắt đầu dùng các biện pháp can thiệp qua đường ống thông để thay van tim nhân tạo cho những trường hợp van động mạch chủ bị thoái hoá, kỹ thuật sửa van hai lá qua da cũng đang được tiến hành. Viện Tim mạch Việt Nam đã sẵn sàng phục vụ người bệnh bằng những kỹ thuật này.

GS. TS Phạm Gia Khải- Chủ tịch Hội tim mạch ASEAN, Chủ tịch Hội tim mạch Việt Nam: "Phòng chống thấp tim là một biện pháp quan trọng ngăn ngừa các biến chứng tim mạch".

Trước đây, bệnh nhân suy tim có liên quan đến thấp tim là 70%, với những cải thiện trong điều kiện sống và các biện pháp điều trị nên hiện nay còn khoảng 30% người suy tim, tổn thương van tim có liên quan đến thấp tim.

Tại các nước Mỹ latinh, tình trạng này cũng khá phổ biến nhưng quá trình dự phòng thấp cấp I, II của họ rất tốt nên đến nay bệnh đã giảm đáng kể.

Ở nước ta, phòng chống thấp tim bắt đầu phát triển từ năm 2001. Đây là biện pháp cơ bản ngăn ngừa các biến chứng tim mạch nguy hiểm. Biện pháp này được chia làm 2 cấp.

Cấp I là ngăn chặn các yếu tố nguy cơ (di truyền, gia đình, kiểm soát và điều trị tốt tình trạng nhiễm khuẩn như viêm họng...);



Cấp II là làm cho các yếu tố nguy cơ không phát triển thêm, đó là điều trị cho bệnh không dẫn đến biến chứng hoặc có biến chứng thì cần điều trị nội khoa, can thiệp hoặc phẫu thuật.

Thời gian từ khi nhiễm liên cầu khuẩn beta nhóm A gây thấp tim đến tổn thương van tim có thời gian vài năm đến 10 năm.

Biện pháp tiêm phòng thấp bằng peniciline chậm cần được tiến hành đến tuổi 40 - 45 mà không cần phải suốt đời. Tiêm phòng thấp cần được tiến hành ở những đơn vị phòng thấp có điều kiện cấp cứu bởi quá trình tiêm peniciline chậm có thể xảy ra những trường hợp bị phản ứng nặng.  
Theo SKĐS

BS. Nguyễn Quốc Bảo, Trưởng khoa Ngoại đầu cổ, BV K (Hà Nội) cho biết, các bác sĩ của Khoa vừa phẫu thuật thành công trường hợp bệnh nhân là Trần Thị H., 54 tuổi, ở Quảng Ninh, bị u tuyến cận giáp. Trong gần 20 năm qua, đây là trường hợp đầu tiên mắc bệnh hiếm gặp này được phát hiện và điều trị thành công tại bệnh viện. Khoảng 2 tháng trước đó, bệnh nhân có biểu hiện mệt mỏi, kém ăn, sụt cân nhanh, sau khi xét nghiệm phát hiện lượng canxi máu tăng 3 - 4 lần bình thường. Sau gần 1 tháng điều trị bằng thuốc đặc trị, bệnh không giảm mà ngày càng trầm trọng, bệnh nhân tiểunhiều, xét nghiệm thấy lượng bạch cầu tăng gấp 2 lần bình thường. Tại BV K, bệnh nhân H. được xác định bị u tuyến cận giáp và được chỉ định phẫu thuật ngay. Các bác sĩ đã tiến hành phẫu thuật bóc tách khối u khoảng 1cm ở tuyến cận giáp. Hiện tại, sức khỏe bệnh nhân đã dần hồi phục.

TRẦN LÊ

Thuốc corticoide là những thuốc mà thành phần có chứa dẫn xuất của cortisol (là một loại hormon do tuyến vỏ thượgn thận tiết ra) như: prednisolon, prednison, dexamthethason, betamethason, triamcinolon… thuốc corticoide được coi là có rất nhiều tác dụng, được dùng để điều trị nhiều bệnh khác nhau. Tuy nhiên, corticoide là thuốc có rất nhiều tác dụng phụ nguy hiểm, đặc biệt là khi sử dụng kéo dài, dùng quá liều hoặc tự điều trị mà không có chỉ định của bác sĩ (BS).

Tác dụng của thuốc corticoide

Có rất nhiều tác dụng, trong phạm vi bài viết này chỉ nêu một số tác dụng chính đó là: chống viêm, chống dị ứng, ức chế miễn dịch chống stress, có vai trò quan trọng trong chuyển hóa đường, đạm, mỡ của cơ thể… Thường dùng trong bệnh: suy thượng thận, bệnh dị ứng, bệnh hen, viêm mũi, viêm xoang, thoái hóa khớp...

Tiêm corticoid vào khớp gối.

 

Tác dụng phụ và những tai biến nguy hiểm

Đầu tiên phải kể đến là biến chứng loét dạ dày hành tá tràng khi dùng corticoide kéo dài, một số trường hợp có thể gây chảy máu dạ dày hoặc thủng dạ dày, nhất là ở bệnh nhân (BN) đã có loét dạ dày từ trước. Tác dụng phụ nguy hiểm tiếp theo của corticoide là khả năng làm tăng đường huyết, do đó nó có thể gây ra đái tháo đường (ĐTĐ) hoặc làm nặng thêm bệnh ĐTĐ. Một biến chứng khác cũng hay gặp là corticoide còn gây phù, tăng huyết áp. Nhiều BN sau một thời gian uống thuốc thấy ăn khỏe, người có vẻ béo ra cứ như là bệnh đã khỏi, thực ra đó chỉ là “béo giả tạo” do thuốc gây phù nhẹ. Và nếu cứ tiếp tục dùng thuốc kéo dài, mà không kèm theo những biện pháp hạn chế phù thì có thể gây phù nặng, cơ thể mệt mỏi, huyết áp tăng cao, thậm chí còn gây biến chứng suy tim, suy thận. Cũng phải kể đến nguy cơ nhiễm trùng ở những người dùng corticoide kéo dài, bởi vì nó ức chế hệ thống miễn dịch, giảm khả năng chống đỡ của cơ thể với vi trùng. Do vậy, những BN này rất dễ bị viêm họng, phế quản, viêm phổi, tiêu chảy… Đối với phụ nữ có thai, nếu dùng thuốc corticoide kéo dài liều cao có thể gây ức chế vỏ thượng thận của thai, ảnh hưởng đến sự phát triển của thai. Trong thời kỳ cho con bú, thuốc này cũng có thể bài tiết qua sữa gây nguy cơ cho trẻ nhỏ, thậm chí ngay cả với liều bình thường. Ngoài ra, corticoide còn gây loãng xương, teo cơ, chậm liền sẹo, gây rạn da, gây bệnh trứng cá, rối loạn tâm thần…

Hiện nay, có một số cơ sở sản xuất thuốc Đông y trái phép đã trộn corticoide lẫn với thảo dược để làm thuốc, đặc biệt là viên linh đơn hoặc cao chữa thấp khớp để bán cho người bệnh và rất nhiều trường hợp biến chứng đáng tiếc đã xảy ra, thậm chí có trường hợp đã tử vong.

Sử dụng thuốc corticoide an toàn, hợp lý

Corticoide có nhiều tác dụng nhưng cũng có nhiều tai biến, vấn đề đặt ra là dùng thuốc để chữa đúng bệnh và hạn chế đến mức thấp nhất những tai biến có thể xảy ra. Trước hết là chỉ dùng thuốc khi có chỉ định và theo dõi của BS, không được tự ý tăng liều, giảm liều hoặc ngừng thuốc đột ngột, kể cả những thuốc corticoide mỡ bôi ngoài da, vì nếu bôi trên diện rộng cũng có thể gây tác dụng toàn thân như khi uống hoặc tiêm, đặc biệt là khi bôi cho trẻ nhỏ phải rất thận trọng. Không dùng corticoide khi đang bị loét dạ dày tá tràng, cao huyết áp, ĐTĐ hoặc nhiễm trùng nặng. Trong thời gian uống thuốc phải ăn lạt, hạn chế chất đường, chất béo và nếu có dùng thuốc khác kèm theo thì phải hỏi ý kiến BS. Khi dùng thuốc mà cơ thể xuất hiện những bất thường thì phải báo ngay cho BS biết để giải quyết. Nếu dùng thuốc kéo dài, cần định kỳ kiểm tra toàn diện sức khỏe. Ngoài ra, không được dùng thuốc Đông y không rõ nguồn gốc xuất xứ, không khám chữa bệnh ở những nhà thuốc Đông y không có giấy phép hành nghề.

BS. NGUYỄN THẾ ANH

(Theo SKĐS)

Hàng ngàn người già cần được thay van tim nhưng không thể thực hiện phẫu thuật này do sức khỏe quá yếu có cơ hội sống lâu hơn nhờ phương pháp đặt van ở động mạch chủ không cần mổ mở lồng ngực.

Các van động mạch chủ là cửa chính của tim và nghiên cứu lớn cho thấy rằng đặt 1 van tim trong động mạch này sẽ giúp tăng thêm cơ hội sống ít nhất là 1 năm cho bệnh nhân mà không cần phải phẫu thuật mổ mở. BS Martin Leon đang cầm trên tay mô hình phóng đại của van tim mới.

Bệnh nhân ngạc nhiên trước cách nhanh chóng họ có thể phục hồi trở lại.

“Cứ như là họ lắp cho cơ thể tôi 1 động cơ mới”, bệnh nhân Herbert Rose, 81 tuổi, ở tại thành phố New York, chia sẻ. Trước ca ghép, ông không thể leo lên một vài bậc cầu thang mà không đau đớn và khó thở nhưng giờ ông có thể bơi 11-14 vòng trong hồ bơi địa phương mỗi ngày.

“Điều này sẽ mở ra hướng điều trị mới”, Trưởng nhóm nghiên cứu TS Martin Leon, Trung tâm Y khoa Đại học Columbia và New York – bệnh viện Presbyterian, nói.

Kết quả nghiên cứu này đã được đăng tải trên tạp chí New England Journal of Medicine và được công bố tại hội nghị Tim mạch thường niên.

Chi phí thay thế van tim mổ mở là từ 50.000 đô la Mỹ trở lên còn thực hiện theo kỹ thuật mới thì sẽ ước chừng khoảng 20.000 - 30.000 đô la Mỹ.

Theo Dân trí

(Bee) - Khi đi vào cơ thể, bức xạ ion sẽ gây ra các hiệu ứng sinh học, nếu bị nhiễm xạ, nhẹ thì bị mệt mỏi, buồn ngủ, bỏng rát da, rụng tóc, đục thủy tinh thể... nặng hơn thì bị phá hủy cấu trúc tế bào.

Sau khi đăng tải thông tin hàng loạt các bệnh viện chiếu xạ vượt liều cho bệnh nhân, Bee đã nhận được khá nhiều ý kiến của độc giả tỏ ra lo sợ cũng như những bức xúc về sự thiếu trách nhiệm của một bộ phận y bác sĩ.

Chúng tôi đã có buổi trò chuyện với PGS.TS Trần Đình Hà, Phó GĐ Trung tâm Y học Hạt nhân và Ung bướu bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội để tìm hiểu rõ việc chiếu xạ vượt liều có ảnh hưởng thế nào đến sức khỏe người bệnh.

PGS.TS Trần Đình Hà cho biết, hiện nay bức xạ ion hóa được ứng dụng để chẩn đoán, điều trị bệnh và nghiên cứu y sinh học khá phổ biến.

Cụ thể, người ta dùng các thiết bị phát bức xạ ion hóa để chẩn đoán như máy chụp X-quang, máy chụp cắt lớp vi tính, máy cộng hưởng từ… nhằm thăm dò chức năng của các tổ chức cơ quan trong cơ thể như các tuyến nội tiết, thận - tiết niệu, gan - mật, tuần hoàn...

Bức xạ ion hóa được dùng để xạ hình chức năng bao gồm xạ hình bằng máy scaner, các máy gamma camera, xạ hình SPECT, chụp PET, PET/CT...

Trong điều trị, người ta còn dùng các thiết bị phát ra các bức xạ ion hóa như máy xạ trị phát ra tia X, tia gamma ...; còn sử dụng các đồng vị phóng  xạ dưới dạng thuốc vào đưa trong cơ thể dưới dạng uống, tiêm truyền, cấy hạt phóng xạ vào khối u.

Chụp cắt lớp vi tính. Ảnh: TL

Khi đi vào cơ thể, bức xạ ion sẽ gây ra các hiệu ứng sinh học, nếu bị nhiễm xạ, tùy theo liều chiếu mà có thể gây ra những ảnh hưởng khác nhau, đó có thể là các biểu hiện cấp tính hoặc những biểu hiện muộn về sau.

Nhẹ thì gây mệt mỏi, buồn ngủ, bỏng rát ở da, rụng tóc, với mắt gây đục thể thủy tinh, giảm thị lực, với hệ thần kinh choáng váng, chóng mặt, về tiêu hóa: buồn nôn, nôn, viêm các niêm mạc đường tiêu hóa…

PGS.TS Trần Đình Hà

Nếu bị chiếu xạ liều cao sẽ gây ra hiện tượng phá hủy cấu trúc tế bào, dẫn đến rối loạn chức năng tế bào, tổ chức trong cơ thể. Chẳng hạn, nếu bị chiếu xạ liều cao vào tủy xương sẽ gây ra suy tủy.

Cũng theo PGS.TS Trần Đình Hà: "Thực ra, ở các bệnh viện thì vấn đề an toàn bức xạ luôn luôn được kiểm soát. Bên cạnh đó, tất cả những liều chẩn đoán điều trị đều được tính toán liều lượng ở mức cho phép, không đến mức quá nguy hiểm nên các bệnh nhân cũng không nên quá lo lắng".

Điều quan trọng nhất trong vấn đề bảo đảm an toàn bức xạ ion hóa khi sử dụng phải đạt được 3 yêu cầu: An toàn cho người bệnh, an toàn cho cán bộ - nhân viên y tế và an toàn cho môi trường.

"Cơ sở hạ tầng phải bảo đảm theo đúng quy định của Cục kiểm soát an toàn bức xạ hạt nhân của Bộ KHCN,phòng phải được xây, được làm bằng các vật liệu che chắn bức xạ ion hóa, để bảo đảm các bức xạ ion hóa không lọt ra ngoài, gây ảnh hưởng đến môi trường và người xung quanh. Các thiết bị bức xạ phải bảo đảm chất lượng, phải được kiểm chuẩn liều lượng bức xạ”.

Hải Huyền

(Bee) - Nguyễn Thị T. 50 tuổi (ở huyện Thường tín, Hà Nội) vừa được phẫu thuật  một phần mặt đứt lìa do tai nạn giao thông tại BV Việt Đức.

Ngày 23/9, thạc sĩ, bác sĩ Vũ Trung Trực, Khoa Phẫu thuật tạo hình-Hàm mặt,  BV Việt Đức cho biết, vùng mặt dưới của bệnh nhân bị vỡ nát, toàn bộ phần môi dưới cùng xương vùng cằm, nhóm răng cửa đứt rời thành một khối dập nát và chảy máu ồ ạt.

Nạn nhân được chuyển đến BV Việt Đức sau 3 giờ bị nạn trong hình trạng bất tỉnh cùng với toàn bộ phần mặt đứt rời được bảo quản trong đá lạnh. Sau hơn 6 giờ phẫu thuât, phần môi cằm đứt rời được nối lại.

 

Nạn nhân trước và sau phẫu thuật (Ảnh bác sĩ cung cấp)

 

Theo bác sĩ Trực, quá trình vi phẫu hết sức khó khăn và vất vả bởi vùng tổn thương này có những mạch máu rất nhỏ, kích thước chỉ khoảng 0,5 - 1mm nên phải thực hiện nhìn dưới kínhkính hiển vi.

Đến nay, sau gần 1 tuần phẫu thuật, sức khỏe bệnh nhân tiến triển tốt và tiếp tục được theo dõi tại khoa. Dự kiến tới đây bệnh nhân có thể phải tiến hành một vài phẫu thuật nữa để phục hồi trở lại chức năng và thẩm mỹ.

Bác sĩ Trực cho biết thêm, đứt rời các bộ phận nhỏ trên mặt là tổn thương hiếm gặp không chỉ ở VN mà cả trên thế giới.

Các bác sĩ khuyến cáo, với những bộ phận đứt rời không bảo quản trực tiếp trong đá lạnh mà bảo quản ở nhiệt độ đá tan, cần cho tổ chức đứt rời vào túi nylon sạch buộc kín lại, cho vào túi thứ hai đựng nước sạch buộc kín rồi mới thả vào thùng đá.

 

Ngọc Bích

(Bee) - Một loại protein mới nhất được các nhà khoa học Anh phát triển có khả năng tăng gấp đôi tuổi thọ của quả thận được ghép của bệnh nhân.

Một loại thuốc có tên gọi là Mirococept, có chức năng như loại sơn để sơn lên các thành mạch máu và ngăn chặn các phản ứng viêm nhiễm có thể gây ra sự hư hỏng của quả thận được ghép.

Trong nghiên cứu ban đầu, loại thuốc này được chứng minh để có thể bảo vệ bộ phận cơ thể được ghép và giúp chúng sống sót sau phẫu thuật cấy ghép. Loại thuốc này cũng đã vượt qua thử nghiệm đối với 16 bệnh nhân đã được ghép thận.

Loại Protein mới sẽ hỗ trợ rất nhiều cho bệnh nhân ghép thận. Ảnh minh họa

 

Theo kế hoạch, một cuộc thử nghiệm giai đoạn 2 được thực hiện với sự tham gia của 300 người để Mirococept trở thành liều thuốc được sử dụng rộng rãi trong vòng 5 năm tới.

Cho đến nay, có khoảng 7.000 bệnh nhân đang chờ hiến thận ở Anh. Năm ngoái, "Đất nước sương mù" đã được thực hiện 2.694 phẫu thuật cấy ghép thận trong nỗ lực thực hiện sự cân bằng giữa nhu cầu tiếp nhận và cho thận.

Mirococept được Trung tâm Hội đồng Nghiên cứu Y học (MRC) về cấy ghép tại King’s College, London thực hiện. Loại thuốc này là một phiên bản được nghiên cứu và phát triển nhằm bảo vệ protein hoặc có thể được gọi là yếu tố điều chỉnh hoàn thiện.

Mirococept hoạt động bằng cách kiểm soát hệ thống miễn dịch để chung không nằm ngoài tầm kiểm soát. Loại thuốc này có một cái “đuôi" để giúp thuốc dính vào thành tế bào. Thông tin chi tiết về việc nghiên cứu về loại thuốc này được trình bày tại Lễ hội Khoa học Đại học Aston ở Birmingham, Anh, hôm 16/ 9 vừa qua.

TC (Theo MIOL)