slogan

 
 

topbannerv1

TIN TỨC

ĐIỀU TRỊ CHỐNG HUYẾT KHỐI BẰNG BA THUỐC TRONG DỰ PHÒNG ĐỘT QUỴ NÃO Ở BỆNH NHÂN ĐẶT STENT

Liệu pháp kháng tiểu cầu kép (aspirin phối hợp với thienopyridine, thường là clopidogrel) đóng vai trò quan trọng trong điều trị ở những bệnh nhân sau đặt stent. Ngoài điều trị kháng tiểu cầu, điều trị kháng đông có thể được chỉ định để dự phòng đột quỵ não trong một số trường hợp như rung nhĩ, rối loạn chức năng thất trái nặng, van tim cơ học, tiền căn thuyên tắc mạch...Điều trị phối hợp aspirin - clopidogrel ít hiệu quả hơn trong dự phòng đột quỵ não so với dùng kháng đông đường uống, và sử dụng kháng đông đường uống đơn độc thì không đủ phòng ngừa thuyên tắc trong stent. Theo một nghiên cứu vừa được đăng tải trên Tạp chí Chest, dùng phối hợp ba thuốc (kháng đông đường uống với aspirin và clopidogrel) có tác dụng chống huyết khối tốt hơn là liệu pháp kháng tiểu cầu kép ở những bệnh nhân đặt stent cần phải dự phòng đột quỵ não.

Bác sĩ Ming Zhong và cộng sự đã thực hiện một phân tích gộp gồm 9 nghiên cứu với 1996 bệnh nhân để khảo sát lợi ích và nguy cơ của điều trị chống huyết khối bằng ba thuốc gồm kháng đông đường uống - thường là warfarin, aspirin và clopidogrel so với liệp pháp kháng tiểu cầu kép gồm aspirin và clopidogrel.

Phân tích cho thấy nguy cơ các biến cố tim mạch lớn như tử vong do tim, nhồi máu cơ tim cấp, thuyên tắc trong stent giảm nhiều khi điều trị bằng ba thuốc so với chỉ có hai loại thuốc (OR, 0,06; p=0,05). Nguy cơ đột quỵ não toàn bộ ghi nhận cao hơn ở bệnh nhân dùng hai thuốc. Ngoài ra, tử vong do mọi nguyên nhân giảm đáng kể khi dùng ba thuốc. Bên cạnh đó, các tác giả cũng ghi nhận biến cố chảy máu trong 6 tháng đầu tiên xảy ra có cao hơn ở bệnh nhân được điều trị bằng ba thuốc (OR, 2,12; p=0,04).

Qua kết quả nghiên cứu, bác sĩ Ming Zhong cho rằng điều trị bằng ba thuốc chống huyết khối hiện là lựa chọn tối ưu cho phần lớn bệnh nhân, đặc biệt những người có nguy cơ cao xảy ra biến cố thuyên tắc và ít có nguy cơ chảy máu.

(From Chest 2011;139: 260-270)

 

TRIỂN VỌNG SỬ DỤNG AMBRISENTAN TRONG ĐIỀU TRỊ TĂNG ÁP PHỔI CỬA

Tăng áp phổi cửa (portopulmonary hypertension) là một biến chứng đôi khi gặp ở bệnh nhân tăng áp lực tĩnh mạch cửa, nhất là bệnh nhân bị xơ gan. Tỷ lệ tăng áp phổi cửa ở bệnh nhân mắc bệnh gan khoảng 4% - 10%. Tăng áp phổi cửa đặc trưng bởi tăng kháng trở mạch phổi làm tắc nghẽn dòng chảy động mạch phổi được xác định khi thông tim phải. Tăng áp phổi cửa có tiên lượng xấu. Tỷ lệ sống còn 5 năm của bệnh nhân tăng áp phổi cửa không điều trị tương đối cao (khoảng 14%) nhưng có thể cải thiện đáng kể nếu được điều trị, với tỷ lệ sống còn 5 năm lên đến 68%.

Điều trị tăng áp phổi cửa dựa trên các dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân tăng áp động mạch phổi vô căn. Epoprostenol tĩnh mạch hiện là thuốc đã được nghiên cứu kỹ trong điều trị tăng áp phổi cửa, và bệnh nhân cho thấy cải thiện huyết động trong một vài báo cáo mới đây. Tuy nhiên, gặp khó khăn khi phải sử dụng epoprostenol với truyền tĩnh mạch liên tục 24 giờ và cần đường truyền tĩnh mạch trung tâm, đôi khi có biến chứng nhiễm trùng. Điều trị bằng đường uống ghi nhận cũng có hiệu qủa trong điều trị tăng áp phổi cửa ở một số nhóm nhỏ bệnh nhân như sildenafil (chất ức chế phosphodiesterase -5), bosentan (chất đối kháng thụ thể endothelin kép). Sildenafil dùng ba lần trong ngày và bosentan có thể gây tăng thoáng qua men gan ở £ 11% bệnh nhân, dễ làm nặng thêm tình trạng bệnh ở bệnh nhân tăng áp phổi cửa. Ambrisentan là một thuốc đối kháng thụ thể endothelin mới nhất với nhiều ưu điểm: đối kháng thụ thể endothelin chọn lọc cao, sử dụng một lần trong ngày và hiếm khi tăng men gan. Rodrigo Cartin-Ceba và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu cho thấy ambrisentan cải thiện đáng kể đáp ứng động học phổi mà không làm tổn hại chức năng gan ở bệnh nhân tăng áp phổi cửa.

Bệnh nhân tăng áp phổi cửa được điều trị một thuốc ambrisentan £ 10mg hàng ngày từ tháng 01/2007 đến tháng 12/2009. Men gan được theo dõi hàng tháng. Đánh giá đáp ứng động học phổi bằng siêu âm tim và thông tim phải. Nghiên cứu được thực hiện ở 13 bệnh nhân, tuổi trung vị là 57 (khoảng giữa tứ phân vị [interquartile range: IQR], 52-60). Bệnh nhân được theo dõi với thời gian trung vị 613 ngày (IQR, 385-1011). Ghi nhận áp lực động mạch phổi trung bình giảm từ 58mmHg (IQR, 37-63) còn 41mmHg (IQR, 27-48) (p=0,004). Kháng trở mạch phổi giảm từ 445dynes/s/cm5 (IQR, 329-834) còn 174 dynes/s/cm5 (IQR, 121-361) (p=0,008). Không có sự thay đổi kết qủa xét nghiệm chức năng gan (aspartate aminotransferase, alanin aminotransferase, bilirubin và INR) sau 12 tháng điều trị.

Với kết qủa nghiên cứu, các tác giả cho rằng đơn trị liệu với ambrisentan đem lại hiệu quả và an toàn trong điều trị bệnh nhân tăng áp phổi cửa.

(From Chest 2011; 139: 109-114)

 

NHÓM YẾU TỐ NGUY CƠ CÓ THỂ GIÚP PHÁT HIỆN BỆNH TIM MẠCH Ở NGƯỜI TRẺ

Hiện diện các yếu tố nguy cơ tim mạch sẽ tiên đoán sự phát triển xơ vữa sớm ở động mạch chủ và động mạch vành. Khi số lượng yếu tố nguy cơ tăng thì sang thương càng lan rộng. Hơn nữa, có đến 85%-90% bệnh nhân bệnh động mạch vành có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ.

Ở người lớn, đánh giá nguy cơ tim mạch được thực hiện trong lâm sàng. Thang điểm nguy cơ Framingham là phương tiện được sử dụng để tiên đoán nguy cơ bệnh động mạch vành tuyệt đối 10 năm ở người ³ 20 tuổi. Khảo sát yếu tố nguy cơ tim mạch cũng được áp dụng ở trẻ vị thành niên và người trẻ tuổi. McMahan và cộng sự đưa ra thang điểm nguy cơ PDAY (Pathobiological Determinant of Atherosclerosis in Youth) tiên đoán tổn thương xơ vữa động mạch tiến triển ở động mạch vành và động mạch chủ bụng ở đối tượng 15 - 29 tuổi. Tuy nhiên, thang điểm PDAY không được áp dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng.

Bác sĩ Amy S.Shah (Trung tâm Nhi khoa Cincinnati, Ohio) và cộng sự thực hiện một nghiên cứu cắt ngang cho thấy có một nhóm yếu tố nguy cơ có thể giúp phát hiện bệnh lý tim mạch ở người trẻ. Dân số nghiên cứu (với cỡ mẫu n=474; tuổi trung bình là 18) được đánh giá về nhân trắc học, xét nghiệm và khảo sát mạch máu. Các yếu tố nguy cơ gồm: (1) BMI ³ 95% bách phân vị; (2) huyết áp (tâm thu hoặc tâm trương) ³ 95% bách phân vị theo giới, tuổi và chiều cao; (3) đường huyết lúc đói ³ 100 mg/dl hoặc insulin đói ³ 95% bách phân vị; (4) rối loạn lipid máu (cholesterol toàn phần ³ 210 mg/dl, LDL-C ³ 128 mg/dl, TG ³ 137 mg/dl, HDL-C £ 37 mg/dl). Độ dày và độ cứng động mạch cảnh được đánh giá bằng siêu âm. Các tác giả đo vận tốc sóng mạch để khảo sát độ cứng thành mạch. Đối tượng nghiên cứu được phân thành hai nhóm: nhóm nguy cơ thấp (0 - 1 yếu tố nguy cơ); nhóm nguy cơ cao (³ 2 yếu tố nguy cơ). Kết qủa nghiên cứu cho thấy nhóm nguy cơ cao có độ dày và độ cứng thành mạch cao hơn nhóm nguy cơ thấp (p < 0,05). Phân tích hồi quy ghi nhận nhóm yếu tố nguy cơ có liên quan với bất thường chức năng và cấu trúc mạch máu sau khi hiệu chỉnh tuổi, chủng tộc và giới. Ngoài ra, nghiên cứu còn ghi nhận thang điểm PDAY cũng có liên quan với bất thường chức năng và cấu trúc mạch máu nhưng giá trị R2 thấp hơn (p < 0,05).

Bác sĩ Amy S.Shah cho rằng nhóm yếu tố nguy cơ này là một công cụ đơn giản, đáng tin cậy để đánh giá bất thường chức năng mạch máu, giúp xác định những người trẻ tuổi có nguy cơ cao mắc bệnh lý tim mạch sớm.

(From Pediatrics 2011; 127: e312-e318).

 

CHI PHÍ CHO BỆNH TIM MẠCH TĂNG GẤP 3 VÀO NĂM 2030

Theo tin từ Hội tim mạch Hoa Kỳ, trong 20 năm nữa, hơn 40% dân số Hoa Kỳ bị bệnh tim mạch và điều này làm tăng tổng chi phí y tế trực tiếp dành để chăm sóc bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành, suy tim, đột qụy và các dạng bệnh lý tim mạch khác từ 273 tỷ đô la lên hơn 800 tỷ đô la.

Ngoài ra, ước tính của Hội tim mạch Hoa Kỳ cho thấy, tần suất bệnh tim mạch sẽ tăng khoảng 10% trong 20 năm nữa nếu không có thay đổi nào trong khuynh hướng phòng ngừa và điều trị. Nếu các yếu tố nguy cơ như đái tháo đường và mập phì tiếp tục tăng nhanh, tần suất mắc bệnh tim mạch và các chi phí liên quan còn tăng nhiều hơn nữa - Tiến sĩ Paul Heidenreich (hệ thống chăm sóc sức khỏe Palo Alto) và cộng sự tuyên bố vào ngày 24/01/2011 trên Circulation.

Hiện tại, bệnh tim mạch là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở Hoa Kỳ và chiếm khoảng 17% chi phí chăm sóc sức khỏe toàn bộ. Trong quá khứ, chi phí y tế cho bệnh tim mạch tăng với tốc độ trung bình hàng năm là 6% và sự tăng chi phí này đi kèm với tăng tuổi thọ. Theo Hội tim mạch Hoa Kỳ, vấn đề là làm thế nào để cải thiện sức khỏe tim mạch hơn nữa mà không tăng chi phí.

Phần lớn các bệnh lý tim mạch có thể phòng ngừa được:

Tấn suất ước tính vào năm 2030 cho tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, suy tim và đột quỵ được công bố gần đây nhất lấy số liệu từ "Điều tra thăm khám dinh dưỡng và sức khỏe quốc gia 1999-2006" và ước tính dân số từ Cục điều tra dân số 2010 - 2030. Dự đoán chi phí y tế cho bệnh tim mạch lấy số liệu từ "Điều tra chi phí y tế 2001- 2005" và không tính chi phí y tế do phải trả cho các bệnh kèm theo.

Đến năm 2030, tần suất bệnh tim mạch theo ước tính tăng 9,9% với tần suất suy tim và đột quỵ tăng khoảng 25%. Tổng chi phí y tế sẽ tăng đến 818 tỷ vào năm 2030 - theo ước tính của hội tim mạch Hoa Kỳ và tổng chi phí gián tiếp do mất năng suất vào khoảng 275 tỷ đô la.

Số liệu từ bảng 2 cho thấy, chi phí y tế theo ước tính cho bệnh tăng huyết áp là cao nhất, một phần là do lão hóa dân số, mặc dù tuổi già không thể giải thích đầy đủ sự gia tăng trong tần suất và chi phí. Tần suất béo phì gia tăng cũng góp phần làm tăng tỷ lệ bệnh tăng huyết áp. Hội tim mạch Hoa Kỳ lưu ý, chi phí y tế dành cho các biến chứng của bệnh tăng huyết áp như bệnh tim, đột quỵ gần như gấp đôi chi phí điều trị tăng huyết áp nên có thể xem đây là "đích" đặc biệt có giá trị để làm thay đổi tổng chi phí dành cho bệnh lý tim mạch trong tương lai.

Theo Heidenreich và cộng sự, điều may mắn là phần lớn các bệnh tim mạch có thể phòng ngừa được và hệ thống chăm sóc sức khỏe cần tập trung vào việc phòng ngừa và can thiệp sớm. Nhóm này cũng nêu bật dữ kiện từ nghiên cứu "Phát hiện nguy cơ bệnh động mạch vành ở người trưởng thành trẻ tuổi - the Coronary Artery Risk Development in Young Adults (CARDIA)" cho thấy nên tiến hành phòng ngừa bệnh tim mạch sớm hơn. Ở nghiên cứu CARDIA, các yếu tố nguy cơ ở người dưới 30 tuổi giúp tiên đoán xơ vữa động mạch dưới lâm sàng 15 năm sau đó. Số liệu cũng ghi nhận cải thiện sớm các yếu tố nguy cơ có kết quả tốt hơn là thay đổi muộn.

Trên lãnh vực sức khỏe cộng đồng, một chính sách hiệu quả hơn dựa trên bằng chứng cùng với các tiếp cận hệ thống và môi trường nên được áp dụng trong phòng ngừa, phát hiện sớm và điều trị các yếu tố nguy cơ của bệnh lý tim mạch - Nhóm nghiên cứu khuyến cáo. Một chiến lược phối hợp giữa phòng ngừa và điều trị tích cực các yếu tố nguy cơ giúp làm giảm đáng kể ảnh hưởng của bệnh lý tim mạch đến sức khỏe và kinh tế của người bệnh.

Bảng 1: Tần số ước tính thô của bệnh tim mạch (%):

Bảng 2: Ước tính chi phí y tế trực tiếp của bệnh lý tim mạch (tỷ đô la)

(From Cost of Cardiovascular Disease to Triple by 2030. http://www.medscape.com/viewarticle/736339)

 

RỐI LOẠN LIPID MÁU THƯỜNG GẶP Ở PHỤ NỮ CÓ HỘI CHỨNG BUỒNG TRỨNG ĐA NANG

Những phụ nữ với hội chứng buồng trứng đa nang có nồng độ LDL-cholesterol và cholesterol non-HDL tăng cao, cũng như là có những thay đổi trong nồng độ triglyceride và HDL-cholesterol - Theo kết quả của một phân tích hệ thống từ các nghiên cứu cắt ngang.

Chúng tôi đề nghị là nên tầm soát rối loạn lipid máu cho tất cả phụ nữ với hội chứng buồng trứng đa nang, gồm LDL-cholesterol và cholesterol non-HDL nhằm phòng ngừa hiệu quả bệnh lý tim mạch - Tiến sĩ Enrico Carmina, Đại học Palermo, Ý và cộng sự đăng tải trên tạp chí "Sản khoa và vô sinh" ngày 17/01/2011.

Nhóm tác giả đã thực hiện một phân tích hệ thống gồm 24 nghiên cứu so sánh nồng độ lipid máu ở phụ nữ có và không có hội chứng buồng trứng đa nang. Kết quả cho thấy, nồng độ triglyceride cao hơn 26 mg/dl và nồng độ HDL-cholesterol thấp hơn 6mg/dl ở phụ nữ có hội chứng buồng trứng đa nang.

Các nhà nghiên cứu cũng ghi nhận: "nồng độ LDL-cholesterol và cholesterol non-HDL ở phụ nữ có hội chứng buồng trứng đa nang cao hơn lần lượt là 12 và 19 mg/dl".

Thậm chí, khi thực hiện phân tích ghép cặp dựa theo chỉ số khối cơ thể (BMI), LDL-cholesterol và cholesterol non-HDL vẫn cao hơn lần lượt là 9 mg/dl và 16 mg/dl.

Tiến sĩ Carmina và cộng sự đưa ra kết luận rằng hội chứng buồng trứng đa nang không chỉ được đặc trưng bởi HDL-cholesterol thấp và triglyceride tăng cao mà còn bởi tăng LDL-cholesterol và cholesterol non-HDL.

Nhóm tác giả cũng nhận thấy quá trình xơ vữa động mạch xảy ra sớm trong cuộc đời nên điều quan trọng là phải đánh giá và điều trị những thay đổi lipid máu ở phụ nữ trẻ tuổi với hội chứng buồng trứng đa nang.

Các nhà nghiên cứu cũng đưa ra lời khuyên: "Đề phòng ngừa bệnh lý tim mạch, mục đích đầu tiên là phải giữ LDL-cholesterol ở mức bình thường bằng cách thay đổi lối sống và dùng thuốc nếu cần. Mục đích tiếp theo là làm giảm cholesterol non-HDL".

(From Dyslipidemia Common in Women With PCOS - http://www.medscape.com/viewarticle/736342)

EPLERENONE LÀM GIẢM NGUY CƠ TỬ VONG VÀ NHẬP VIỆN Ở BỆNH NHÂN BỊ SUY TIM

Hoạt hoá thụ thể mineralcorticoid bởi aldosterol và cortisol gây kết qủa bất lợi ở bệnh nhân mắc bệnh lý tim mạch. Các hướng dẫn hiện nay khuyến cáo sử dụng đối kháng thụ thể mineralcorticoid trong điều trị suy tim. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh đối kháng mineralcorticoid cải thiện tỷ lệ sống còn ở bệnh nhân suy tim tâm thu mãn tính nặng NYHA III-IV (như RALES: Randomized Aldactone Evaluation Study) và suy tim sau nhồi máu cơ tim (như EPHESUS: Eplerenone Post-Acute Myocardial Infarction Heart Failure Efficacy and Survival Study). Theo một nghiên cứu vừa được đăng tải trên The New England Journal of Medecine, eplerenone cũng làm giảm nguy cơ tử vong và nhập viện ở bệnh nhân suy tim tâm thu có triệu chứng mức độ nhẹ NYHA II.

EMPHASIS-HF (Eplerenone in Mild Patients Hospitalization and Survival Study in Heart Failure), được thực hiện bởi Faiez Zannad và cộng sự, là một nghiên cứu mù đôi - ngẫu nhiên gồm 2737 bệnh nhân suy tim với NYHA II và có phân suất tống máu thất trái EF £ 35%. Có 1364 bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên sử dụng eplerenone và 1373 bệnh nhân nhóm chứng. Tiêu chí chính là tử vong do các nguyên nhân tim mạch hoặc phải nhập viện vì suy tim. Sau thời gian theo dõi trung bình 21 tháng, tiêu chí chính xảy ra 18,3% ở nhóm bệnh nhân sử dụng eplerenone so với 25,9% ở nhóm chứng (HR: 0,63 95%CI; 0,54 - 0,74; p <0,001). 10,8% ở nhóm bệnh nhân sử dụng eplerenone và 13,5% ở nhóm chứng  tử vong do nguyên nhân tim mạch (HR: 0,76 95%CI; 0,61 - 0,94; p = 0,01). Kết qủa nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ phải nhập viện vì suy tim giảm đáng kể ở nhóm bệnh nhân sử dụng eplerenone. 164 (chiếm tỷ lệ # 12%) bệnh nhân sử dụng eplerenone phải nhập viện so với 253 (chiếm tỷ lệ # 18,4%) bệnh nhân nhóm chứng (HR:0,58 95%CI; 0,47 - 0,70; P < 0,001).

Hoạt hoá thụ thể mineralcorticoid thông qua aldosterone và cortisol đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của suy tim. Mặc dù được điều trị với ức chế men chuyển, ức chế thụ thể và ức chế beta, bệnh nhân suy tim dù chỉ với mức độ nhẹ cũng có thể tăng thường xuyên nồng độ aldosterone và cortisol. Thụ thể mineralcorticoid không bị blốc bởi các điều trị này.

Hoạt hoá thụ thể mineralcorticoid cho thấy thúc đẩy xơ hoá cơ tim trong thực nghiệm. Ở bệnh nhân suy tim cũng như bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim, sử dụng đối kháng thụ thể mineralcorticoid làm giảm số lượng chất cơ bản ngoại bào, thông qua đánh giá nồng độ của các dấu ấn sinh học collagen. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng gợi ý đối kháng thụ thể mineralcorticoid tác động đến nhiều cơ chế quan trọng được biết là có vai trò trong quá trình tiến triển của suy tim.

Với kết qủa nghiên cứu, các tác giả cho rằng nên sử dụng thêm eplerenone trong khuyến cáo điều trị suy tim tâm thu có triệu chứng nhẹ để làm giảm tỷ lệ tử vong do nguyên nhân tim mạch cũng như phải nhập viện vì suy tim.

(From N Engl J Med 2011;364:11-21)

 

tinmoi THANG ĐIỂM MỚI ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ CHẢY MÁU, "THANG ĐIỂM HAS-BLED", TRONG ĐIỀU TRỊ KHÁNG ĐÔNG Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ

Rung nhĩ liên quan tăng nguy cơ đột quỵ não, một tình trạng bệnh lý thường xảy ra hơn ở những bệnh nhân có suy tim, tăng huyết áp, đái tháo đường và tiền căn huyết khối tắc mạch. Thuốc kháng đông đường uống làm giảm đáng kể nguy cơ này và nó được khuyến cáo sử dụng ở những bệnh nhân rung nhĩ có nguy cơ đột quỵ não và huyết khối tắc mạch mức độ trung bình đến cao. Tần suất rung nhĩ tăng làm tăng tỷ lệ sử dụng thuốc kháng đông đường uống trong dân số bệnh nhân này, thường gặp bệnh nhân lớn tuổi và mắc nhiều bệnh phối hợp. Tuy nhiên, sử dụng thuốc kháng đông cần phải cân bằng giữa lợi ích dự phòng đột quỵ não và nguy cơ chảy máu. Một thang điểm mới, thang điểm HAS-BLED, giúp tiên đoán nguy cơ chảy máu ở bệnh nhân rung nhĩ. Thang điểm HAS-BLED vừa được khuyến cáo sử dụng trong hướng dẫn xử trí rung nhĩ của Hội Tim mạch Châu Âu cũng như Hội Tim mạch Canada.

Thang điểm HAS-BLED

 

Đặc điểm lâm sàng

Điểm

H (Hypertention)

Tăng huyết áp (huyết áp tâm thu > 160mmHg)

1

A (Abnormal renal and liver function)

Bất thường chức năng thận; chức năng gan (1 điểm cho mỗi yếu tố)

1 hoặc 2

S (Stroke)

Tiền căn đột quỵ não

1

B (Bleeding)

Tiền căn chảy máu

1

L (Labile INRs)

INR dao động

1

E (Elderly)

Lớn tuổi (>65 tuổi)

1

D (Drugs or alcohol)

Sử dụng đồng thời thuốc chống ngưng tập tiểu cầu, thuốc kháng viêm non-steroid và nghiện rượu ( 1 điểm cho mỗi yếu tố)

1 hoặc 2

Bác sĩ Gregory YH (Đại học Birmingham, Anh quốc) cho rằng thang điểm HAS-BLED có nhiều ưu điểm hơn so với các thang điểm khác trong tiên đoán nguy cơ chảy máu. Gregogy YH và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu đánh giá nguy cơ chảy máu 1 năm ở bệnh nhân rung nhĩ bằng thang điểm HAS-BLED.

Nghiên cứu thực hiện trên 3978 bệnh nhân trong Euro Heart Survey on AF. Tất cả các yếu tố nguy cơ gây chảy máu xác định từ phân tích đơn biến (như tuổi > 65, giới nữ, đái tháo đường, suy tim, COPD, bệnh van tim, suy thận, tiền căn chảy máu và sử dụng clopidogrel) được sử dụng trong phân tích hồi quy đa biến logistic với phối hợp thêm các yếu tố nguy cơ: thuốc kháng đông đường uống, sử dụng rượu và tăng huyết áp. Tính toán thang điểm HAS-BLED, dựa trên các yếu tố nguy cơ từ nghiên cứu thuần tập này. Nghiên cứu ghi nhận có 1,5% trường hợp chảy máu trong 1 năm theo dõi. Độ chính xác tiên đoán trong toàn bộ dân số với sử dụng các yếu tố nguy cơ chính ( C statistic 0,72) ổn định khi áp dụng trong nhiều phân nhóm. Áp dụng thang điểm đánh giá nguy cơ chảy máu HAS-BLED đem lại kết qủa C statistic tương tự, ngoại trừ trường hợp bệnh nhân chỉ sử dụng thuốc kháng tiểu cầu một mình hoặc không có điều trị kháng đông.

Bác sĩ Gregory YH nhấn mạnh thang điểm HAS-BLED là một phương tiện dễ áp dụng, mang tính thực hành để đánh giá nguy cơ chảy máu ở bệnh nhân rung nhĩ.

(From Chest 2010; 138: 1093-1100)

 

tinmoi ĂN THỊT ĐỎ LÀM TĂNG NGUY CƠ ĐỘT QUỴ

Một nghiên cứu mới cho thấy: "Những phụ nữ ăn tối thiểu 102 gram thịt đỏ mỗi ngày có nguy cơ nhồi máu não tăng 42 % so với người ăn ít hơn 25 gram thịt đỏ mỗi ngày".

Theo Tiến sĩ Susanna C. Larsson, Viện Y Khoa Quốc gia Stockholm, Thụy Điển: "Điều này cho thấy, ăn thịt đỏ và các thịt đã xử lý làm tăng nguy cơ nhồi máu não". Kết quả này nên được khẳng định lại trong các nghiên cứu tiền cứu, mẫu lớn và trong các nghiên cứu thực nghiệm với các giả thiết về cơ chế sinh học.

Nghiên cứu này đã được đăng trên tạp chí đột quỵ "Stroke" vào ngày 16 tháng 12. Đây là một nghiên cứu tiền cứu, gồm 34.670 phụ nữ Thụy Điển từ 49 đến 83 tuổi, những người đã tham gia vào một nghiên cứu Cohort "chụp nhũ ảnh" tại Thụy Điển và đã hoàn thành bảng câu hỏi về chế độ ăn và lối sống vào năm 1997.

Ngoài việc cung cấp thông tin về trình độ văn hóa, cân nặng, chiều cao, thói quen hút thuốc lá, các hoạt động thể lực, việc sử dụng thuốc aspirin, tiền căn cá nhân, tiền căn nhồi máu cơ tim của gia đình và việc uống rượu, các đối tượng nghiên cứu cũng được hỏi về thói quen sử dụng các loại thực phẩm khác nhau, kể cả thịt.

Ở nghiên cứu này, các nhà khoa học đã chia thịt thành ra thịt đỏ, thịt tươi và thịt đã được xử lý gồm xúc xích, hot dog, xúc xích Ý Salami, giăm bông và pate gan. Thịt đỏ là tổng của thịt tươi và thịt đã được xử lý.

Trong thời gian theo dõi trung bình là 10,4 năm, có 1.680 trường hợp bị đột quỵ: 1.310 ca bị nhồi máu não, 154 ca xuất huyết não, 79 ca xuất huyết dưới màng nhện và 137 ca đột quỵ không đặc hiệu.

So với các phụ nữ ở nhóm có mức tiêu thụ thịt đỏ thấp nhất, nguy cơ tương đối bị nhồi máu não ở phụ nữ có mức tiêu thụ thịt đỏ cao nhất là 1,22 (khoảng tin cậy 95% là 1,01 - 1,46; p = 0,04). Mối liên hệ giữa thịt đỏ và nhồi máu não mạnh hơn khi loại trừ các số liệu theo dõi của 3 năm đầu tiên (RR = 1,35; khoảng tin cậy 95% là 1,1 - 1,66; p = 0,005).

Trong số những người không bao giờ hút thuốc lá và không có đái tháo đường, nguy cơ nhồi máu não tăng 68% ở nhóm ăn thịt nhiều nhất so với nhóm ăn thịt ít nhất.

Các nhà nghiên cứu không tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa việc ăn thịt tươi và nguy cơ xuất huyết não hoặc xuất huyết dưới nhện. Thịt gia cầm không làm tăng nguy cơ bị bất kỳ dạng đột quỵ nào.

Các cơ chế có thể:

Các tác giả đã đưa ra vài cơ chế có thể để giải thích mối liên hệ giữa lượng thịt ăn vào và nhồi máu não. Ít nhất là có 1 nghiên cứu cho thấy nguy cơ tăng huyết áp -  một yếu tố thúc đẩy đột quỵ cao hơn ở nhóm ăn thịt.

Thịt đỏ chứa mỡ bão hòa và cholesterol, làm tăng nguy cơ bị bệnh tim. Thịt đỏ cũng chứa nhiều sắt - chất xúc tác để hình thành các gốc tự do hydroxyl có tính oxidant mạnh.

Đề cập đến nghiên cứu này, Tiến sĩ Thomas W. Wolever, Khoa dinh dưỡng, Đại học Toronto, Ontario, Canada, cho rằng, nồng độ cao của sắt trong thịt đỏ làm tăng nguy cơ đột quỵ.

Nồng độ hemoglobin và sắt tăng cao liên quan đến bệnh lý tim mạch nhưng vẫn chưa rõ có phải là vì  độ quánh máu cao do tăng số lượng hồng cầu hoặc là do chính ion sắt là một chất oxidant - gây ra stress oxid hóa và thúc đẩy xơ vữa mạch máu.

Một yếu tố khác cũng góp phần là natri. Trong nghiên cứu này, mối liên hệ giữa thịt và nhồi máu não mạnh hơn trong nhóm ăn thịt đã xử lý so với nhóm ăn thịt tươi. Thịt đã xử lý có nồng độ natri cao hơn, giúp giải thích một phần kết quả nghiên cứu này - Nhóm tác giả nhận định.

Tiến sĩ Wolever cho rằng, chế độ ăn có nhiều natri và ít kali, canxi và ma nhê làm tăng đột quỵ. Chế độ ăn này đối lập với chế độ ăn làm giảm huyết áp - DASH (Dietary Approaches to Stop Hypertension) có natri thấp nhưng giàu các thành phần dinh dưỡng khác.

Kết quả không gây ngạc nhiên:

Theo Tiến sĩ Wolever, kết quả từ nghiên cứu này không gây ngạc nhiên bởi vì đột quỵ và bệnh động mạch vành có nhiều yếu tố nguy cơ chung như hội chứng chuyển hóa và đề kháng insulin cũng như tăng huyết áp. Tất cả đều có liên quan đến việc ăn thịt đỏ.

Tiến sĩ Wolever cũng cho biết thêm có một vài ca đột quỵ xuất huyết não trong nghiên cứu này và chưa rõ là điều này có làm giảm sức mạnh thống kê của nghiên cứu hay không. Ngoài ra, nếu thịt và protein có liên quan đến tình trạng tăng đông thì xuất huyết sẽ không xảy ra. Cũng theo Tiến sĩ Wolever, lượng thịt được tiêu thụ cao nhất trong nghiên cứu này là 102 gram/ngày nhưng không phải tất cả đều ở mức cao như vậy. Phụ nữ thường ăn ít thịt hơn nam. Ngoài ra, mặc dù chế độ ăn ở vùng Bắc Mỹ có làm tăng nguy cơ tim mạch và ung thư nhưng chế độ ăn này cũng giúp sống thọ và khỏe mạnh.

Tiến sĩ cho biết thêm, những điểm tìm thấy trong nghiên cứu này không nhằm chứng minh mối liên hệ nhân quả nhưng kết quả này khuyến khích những người đang có chế độ ăn chay.

(Dịch từ "Red Meat Eaters May Face Increased Stroke Risk" -  http://www.medscape.com/viewarticle/734959)

 

tinmoi PHỐI HỢP THUỐC ỨC CHẾ KÊNH CANXI VÀ CLOPIDOGREL THÌ AN TOÀN SAU NHỒI MÁU CƠ TIM

Theo một nghiên cứu Cohort ở mức quốc gia của Đan Mạch: "Thuốc ức chế kênh canxi không gây tương tác với clopidogrel" - Điều này có nghĩa là không có gì nguy hiểm cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim khi uống cả 2 thuốc này cùng lúc".

Thuốc ức chế kênh canxi và clopidogrel được chuyển hóa bởi cùng men cytochrome P450 ở gan - CYP3A4. Theo Tiến sĩ Jonas B. Olesen và cộng sự từ bệnh viện trường đại học Copenhagen, Gentofte, Hellerup: "Nghiên cứu mới cho thấy, thậm chí nếu có sự tương tác giữa thuốc ức chế kênh canxi và chuyển hóa clopidogrel thì sự tương tác này là nhỏ và ít có ý nghĩa lâm sàng".

Đây là nghiên cứu Cohort lớn gồm 56.800 bệnh nhân. Những bệnh nhân này nhập viện với chẩn đoán nhồi máu cơ tim lần đầu từ năm 2000 đến năm 2006. Khoảng ½ (n = 24.923 hoặc 44%) đã dùng clopidogrel, số còn lại thì không. Tổng cộng có khoảng 13.380 bệnh nhân được điều trị với thuốc ức chế kênh canxi.

Khi phân tích theo mô hình COX, ở thời điểm 1 năm, nguy cơ bị biến cố toàn bộ (gồm tử vong tim mạch, nhập viện vì nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ) có liên quan với thuốc ức chế kênh canxi tăng lên bất kể bệnh nhân có dùng clopidogrel (HR = 1,15) hay không (HR = 1,05).

Tỷ số nguy cơ tương tác giữa thuốc ức chế kênh canxi và clopidogrel là 1,08; cho thấy không có tác động có ý nghĩa thống kê của việc phối hợp thuốc ức chế kênh canxi và clopidogrel trên các biến cố tiên phát - Nhóm nghiên cứu công bố trên tạp chí của Hội tim mạch Hoa Kỳ vào ngày 17 tháng 01.

Khi phân tích riêng lẽ từng biến cố, kết quả cũng tương tự đối với các nhóm thuốc ức chế kênh canxi khác nhau, với các liều thuốc ức chế kênh canxi cao, thấp khác nhau và ở các nhóm bệnh nhân khác nhau.

Tại sao thuốc ức chế kênh canxi liên quan với nguy cơ tim mạch, độc lập với clopidogrel? Có thể là do có một số yếu tố gây nhiễu không đo lường được như đái tháo đường hoặc suy thận mà cả 2 bệnh này thường gặp hơn ở bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế kênh canxi - Nhóm tác giả nhận định.

Theo Tiến sĩ Oleson, nghiên cứu này gây chú ý vì đây là nghiên cứu ở mức quốc gia của Đan Mạch nên tránh được các sai số do khác biệt về tình trạng kinh tế xã hội. Vì vậy, kết quả sẽ đại diện cho những người bị bệnh tim thiếu máu cục bộ. Cũng do cỡ mẫu nghiên cứu rất lớn nên các phân tích đáng tin cậy và như vậy, bất kỳ một tương tác bất lợi trong việc phối hợp thuốc ức chế kênh canxi và clopidogrel đều được phát hiện.

Phối hợp thuốc ức chế kênh canxi và clopidogrel thì an toàn nếu dùng đúng chỉ định. Tiến sĩ Oleson kết luận.

(Dịch từ "Calcium-Channel Blocker Plus Clopidogrel Safe After Myocardial Infarction" - http://www.medscape.com/viewarticle/735873)

(SGGP). – Ngày 20-2, PGS-TS Nguyễn Hữu Ước, Trưởng khoa Phẫu thuật tim mạch - lồng ngực, Bệnh viện Việt Đức cho biết, tối 19-2, sau hơn 5 giờ tận tình cứu chữa, các thầy thuốc của bệnh viện đã cứu sống một trường hợp chấn thương tim vô cùng hy hữu.

Bệnh nhân là anh Nguyễn Văn H., 32 tuổi, bị chấn thương sau tai nạn lao động do máy cẩu đập vào ngực. Bệnh nhân được đưa vào bệnh viện trong tình trạng bất tỉnh, tím tái và huyết áp tụt. Các kết quả siêu âm, chụp chiếu trước đó đều cho thấy bệnh nhân bị chấn thương tim kín.

Tuy nhiên sau khi mổ ra thì tim gần như bị vỡ làm đôi, bên trong quả tim bị vỡ nát do va đập quá mạnh, các tổ chức trong tim bị tổn thương nặng nề. Tim bị vỡ vách liên thất, đứt chỗ bám của van 2 lá và van 3 lá gây suy tim cấp tính, rách toàn bộ vách liên thất, nguy cơ tử vong rất cao. Bởi có tới 90% nạn nhân vỡ tim đều bị chết, số còn lại cũng rất ít cơ hội sống sau khi được phẫu thuật.

Sau 5 giờ phẫu thuật, khâu vá những chỗ vỡ, bảo tồn van 2 lá, tạo hình lại vách liên thất, hồi sức tích cực, quả tim của bệnh nhân đã đập trở lại. PGS-TS Nguyễn Hữu Ước cho biết, dù chưa thể khẳng định nhưng hy vọng sống cho bệnh nhân đã có.

KH.QUỐC

RIVAROXABAN LÀM GIẢM ĐÁNG KỂ NGUY CƠ ĐỘT QỤY Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ VỚI TÍNH AN TOÀN TƯƠNG ĐƯƠNG WARFARIN TRONG MỘT NGHIÊN CỨU PHA III

TÓM TẮT

Nghiên cứu rung nhĩ ROCKET-AF cho thấy tính ưu việt của viên thuốc kháng đông đường uống mới, ngày dùng một lần rivaroxaban so với warfarin để ngừa đột qụy và thuyên tắc mạch máu ngoài hệ thần kinh trung ương ở bệnh nhân rung nhĩ.

Tỷ lệ xuất huyết chung (nặng và nhẹ) thì tương đương warfarin nhưng tỷ lệ xuất huyết nội sọ của rivaroxaban thấp hơn warfarin

ROCKET-AF là thử nghiệm lâm sàng pha III lần thứ 7 của rivaroxaban, cho thấy kết quả tốt và ổn định của rivaroxaban so với chăm sóc chuẩn.

Rivaroxaban là một thuốc kháng đông đường uống mới, lý tưởng do Công ty dược phẩm Bayer HealthCare's Wuppertal, Đức sản xuất. Thuốc có thời gian tác dụng nhanh, có thể tiên đoán được mối liên hệ liều lượng-đáp ứng và độ khả dụng sinh học cao, không cần theo dõi chức năng đông máu cũng như ít bị tương tác với thức ăn.

Rivaroxaban (biệt dược Xarelto®) được chỉ định trong phòng ngừa huyết khối thuyên tắc tĩnh mạch ở người lớn sau phẫu thuật thay khớp háng và khớp gối chọn lọc và là thuốc kháng đông đường uống mới duy nhất cho thấy hiệu quả ổn định và tốt hơn enoxaparin trong chỉ định này. Hiện Xarelto® đã được cho phép sử dụng ở hơn 100 quốc gia trên thế giới.

ROCKET-AF (Rivaroxaban Once daily oral direct Factor Xa inhibition Compared with vitamin K antagonism for prevention of stroke and Embolism Trial in Atrial Fibrillation) là một thử nghiệm pha III, tiền cứu, ngẫu nhiên, mù đôi so sánh việc dùng rivaroxaban ngày một lần (20 mg hoặc 15 mg cho bệnh nhân suy thận trung bình) với warfarin điều chỉnh liều trên 14.264 bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim và có nguy cơ đột quỵ hoặc thuyên tắc mạch máu ngoài hệ thần kinh trung ương.

Mục đích tiên phát của ROCKET-AF là chứng minh hiệu quả của rivaroxaban ngày một lần không kém hơn chế độ điều trị với warfarin được kiểm soát tốt trong phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch máu ngoài hệ thần kinh trung ương ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim. Biến số chính để đo tính an toàn là tỷ lệ bị các biến cố xuất huyết nặng và nhẹ.

Kết quả của thử nghiệm đã được Công ty dược phẩm Bayer công bố vào ngày 15 tháng 11 năm 2010 vừa qua, tại Chicago. Số liệu cho thấy, rivaroxaban ưu việt hơn warfarin trong phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch máu ngoài hệ thần kinh trung ương ở bệnh nhân rung nhĩ. Điều quan trọng là, tỷ lệ bị xuất huyết thì tương tự warfarin và các biến cố xuất huyết nặng gây lo lắng cho cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân như xuất huyết nội sọ, chảy máu nội tạng nặng, các xuất huyết có thể gây tử vong chiếm tỷ lệ thấp hơn có ý nghĩa thống kê trong nhóm dùng rivaroxaban. Kết quả này làm bùng nổ phiên báo cáo khoa học tại Hội tim mạch Hoa Kỳ năm 2010 ở Chicago, Hoa Kỳ.

Mỗi năm, rung nhĩ và đột quỵ đã tàn phá cuộc sống của hàng triệu bệnh nhân và gia đình họ trên toàn thế giới. Thuốc kháng đông warfarin thì hiệu quả để phòng ngừa đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ và là thuốc điều trị chính trong hơn nửa thế kỷ qua. Tuy nhiên, theo Giáo sư Werner Hacke - Trưởng khoa thần kinh của đại học Heidelberg, Đức và là thành viên Hội đồng khoa học của nghiên cứu ROCKET-AF thì việc sử dụng warfarin trên lâm sàng gặp nhiều khó khăn. Kết quả từ nghiên cứu ROCKET-AF với việc dùng rivaroxaban ngày một lần mở ra cho bệnh nhân triển vọng trong phòng ngừa đột quỵ với tính an toàn cao và tiện lợi.

ROCKET-AF gồm 14.264 bệnh nhân là một nghiên cứu lớn nhất về phòng ngừa đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ, so sánh việc dùng rivaroxaban ngày một lần với warfarin điều chỉnh liều. Đối với các kết cục tiên phát, rivaroxaban ưu việt hơn warfarin, làm giảm 21% nguy cơ tương đối bị đột quỵ và thuyên tắc hệ thống ngoài hệ thần kinh trung ương ở nhóm điều trị (1,7 và 2,15%; p = 0,015). Ngoài ra, trong nhóm dự định điều trị gồm tất cả bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên vào trong nghiên cứu cho đến khi kết thúc thử nghiệm (dù có hoàn thành lộ trình điều trị hay phải chuyển sang một chế độ điều trị khác), rivaroxaban cho thấy tốt hơn warfarin (2,12% so với 2,42%; p < 0,001). Điều này cho thấy, so với warfarin, lợi ích điều trị được duy trì khi bệnh nhân dùng rivaroxaban.

Ngoài ra, đột quỵ do xuất huyết, một trong những dạng nặng nhất của đột quỵ có tỷ lệ thấp hơn đáng kể trong nhóm rivaroxaban (0,26% so với 0,44%; p = 0,024). So với warfarin, nhóm dùng rivaroxaban ít bị nhồi máu cơ tim hơn (0,91% so với 1,12%; p = 0,121) và có tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân cũng thấp hơn (1,87% so với 2,21%; p = 0,073).

Các lợi ích của rivaroxaban trong thử nghiệm ROCKET-AF không đi kèm với tỷ lệ xuất huyết gia tăng. Khi xem xét tính an toàn của thuốc dựa vào tỷ lệ bị các biến cố xuất huyết nặng và nhẹ, rivaroxaban có tỷ lệ tương tự warfarin (14,91% so với 14,52%; p = 0,442). Tỷ lệ xuất huyết nặng cũng tương tự giữa 2 nhóm (3,60% so với 3,45%; p = 0,576). Điều quan trọng là, nhóm dùng rivaroxaban bị xuất huyết nội sọ ít hơn (0,49% so với 0,74%; p = 0,019), chảy máu nội tạng nặng cũng ít hơn (0,82% so với 1,18%; p = 0,007) và các xuất huyết gây tử vong cũng thấp hơn (0,24% so với 0,48%; p = 0,003). Tỷ lệ bệnh nhân bị giảm hemoglobin ((2,77% so với 2,26%, p = 0,019) và cần phải truyền máu (1,65% so với 1,32%, p = 0,044) ở nhóm rivaroxaban cao hơn nhóm warfarin.

Tần suất bất thường chức năng gan tương tự giữa 2 nhóm và không có trường hợp nào tổn thương gan nặng do rivaroxaban được ghi nhận.

Nhìn chung, rivaroxaban được dung nạp tốt và tỷ lệ bỏ trị do bị tác dụng phụ tương tự nhóm dùng warfarin. Rivaroxaban với liều dùng ngày 1 lần, không cần theo dõi đông máu thường quy cho thấy là thuốc hiệu quả, dễ sử dụng và dung nạp tốt.

ROCKET-AF là thử nghiệm lâm sàng pha III lần thứ 7 liên tiếp cho thấy ưu việt (RECORD1, 2, 3, 4, EINSTEIN-EXTENSION và ROCKET AF), hoặc không kém hơn của rivaroxaban (EINSTEIN-DVT) so với warfarin. Các thử nghiệm RECORD so sánh rivaroxaban với enoxaparin trong phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch trên 12.500 bệnh nhân phẫu thuật thay khớp háng hoặc khớp gối chọn lọc. Nghiên cứu pha III đa quốc gia EISTEIN-DVT so sánh chế độ điều trị riêng lẽ với thuốc kháng đông mới rivaroxaban và enoxaparin lúc ban đầu, tiếp theo là kháng vitamin K trong một thử nghiệm ngẫu nhiên, nhãn mở gồm hơn 3.400 bệnh nhân bị huyết khối tĩnh mạch sâu có triệu chứng cấp tính nhưng không có triệu chứng của thuyên tắc phổi. EINSTEIN-EXTENSION đánh giá hiệu quả và tính an toàn của rivaroxaban so với giả dược trong phòng ngừa thứ phát cục máu đông tĩnh mạch có triệu chứng tái phát bằng cách kéo dài thời gian phòng ngừa thêm 6 hoặc 12 tháng, dài hơn tổng thời gian điều trị trước đây chỉ là 6 hoặc 12 tháng và thu dung khoảng 1.200 bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc thuyên tắc phổi có triệu chứng.

Theo Tiến sĩ Robert M. Califf, đồng Chủ tọa của nghiên cứu và là Viện phó Viện nghiên cứu lâm sàng trường Đại học Duke: "Do tần suất rung nhĩ tăng cao và những khó khăn khi dùng warfarin nên việc có một thuốc mới thay thế, hiệu quả và không làm tăng tỷ lệ xuất huyết như rivaroxaban, được ghi nhận trong thử nghiệm này là điều được mong đợi".

(From News Release Rivaroxaban Significantly Reduces Risk of Stroke in Patients with Atrial Fibrillation with Comparable Safety versus Warfarin in Pivotal Phase III Study) - www.bayerscheringpharma.de

 

TĂNG NGUY CƠ BỆNH TIM THIẾU MÁU CỤC BỘ KHI BỊ VIÊM KHỚP DẠNG THẤP

Theo một nghiên cứu vừa đăng tải trên Tạp chí Nội khoa (Journal of Internal Medecine), nguy cơ nhồi máu cơ tim và các biến cố thiếu máu cơ tim khác tăng nhanh sau khi chẩn đoán viêm khớp dạng thấp. Khởi phát đột ngột các biến cố này gợi ý có các cơ chế khác ngoài xơ vữa động mạch.

Bác sĩ Marie Holmquist (Viện Karolinska, Stockholm, Thuỵ Điển) và cộng sự tiến hành nghiên cứu đoàn hệ gồm n = 7 469 bệnh nhân được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp trong khoảng thời gian 1995 - 2006, so sánh nhóm chứng n =37 024 bắt cặp theo tuổi và giới.

Kết quả nghiên cứu cho thấy nguy cơ tương đối nhồi máu cơ tim là 1,6 (95% CI 1,4; 1,9), và nguy cơ tương đối bệnh tim thiếu máu cục bộ là 1,4 (95% CI 1,2; 1,6). Đặc biệt, nguy cơ cơn đau thắt ngực và tái tưới máu động mạch vành cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân viêm khớp dạng thấp. Ngoài ra, nguy cơ tương đối còn được đánh giá theo khoảng thời gian từ khi được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp (< 1, 1 - 4, 5 - 12 năm). Nguy cơ tương đối nhồi máu cơ tim là 1,4 (95% CI 0,9; 2,1) trong năm đầu tiên sau khi chẩn đoán viêm khớp dạng thấp, 1,6 (95% CI 1,3; 2,0) sau 1 - 4 năm và 1,6 (95% CI 1,2; 2,2) từ năm thứ 5 - 12.

Theo Marie Holmquist và cộng sự, tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và các biểu hiện khác của bệnh tim thiếu máu cục bộ ngay sau khi được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp gợi ý sự thay đổi đáng kể yếu tố viêm trong bệnh viêm khớp dạng thấp là một nguyên nhân chính trong bệnh sinh bệnh tim thiếu máu cục bộ. Điều này gợi ý cần thiết có các nghiên cứu sinh bệnh học phân tử của bệnh tim thiếu máu cục bộ liên quan đến viêm khớp dạng thấp cũng như chiến lược dự phòng bệnh tim thiếu máu cục bộ ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.

Với kết qủa của nghiên cứu, các tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng trong can thiệp phòng chống các yếu tố nguy cơ bệnh tim thiếu máu cục bộ, ngoài các yếu tố nguy cơ truyền thống cần phải chú ý các yếu tố nguy cơ khác như yếu tố nguy cơ liên quan đến viêm khớp dạng thấp.

(From J Intern Med 2010: 268; 578-585)

 

TROPONIN T ĐƯỢC PHÁT HIỆN BẰNG PHƯƠNG PHÁP SIÊU NHẠY LÀ MỘT DẤU ẤN CỦA BỆNH TIM MẠCH MÃN TÍNH

Các troponin tim T (cTnT) và I là các dấu ấn sinh học ưa thích để chẩn đoán nhồi máu cơ tim. Gần đây, ghi nhận nồng độ troponin tăng không những gặp trong tổn thương cơ tim cấp mà còn có trong một số tình trạng bệnh mãn tính như bệnh động mạch vành, suy tim. Troponin T và I đôi khi cũng được phát hiện chỉ với phương pháp thông thường ở các cá thể trong dân số chung. Mặc dù tỷ lệ phát hiện có troponin trong dân số còn thấp, nhưng nó có liên quan mạnh với bệnh tim cấu trúc, nguy cơ tử vong tăng và biến cố tim mạch. Do vậy, troponin rất hữu ích để phát hiện bệnh tim mạch dưới lâm sàng và đánh giá nguy cơ tim mạch trong dân số chung. Tuy nhiên, với phương pháp thông thường thì tỷ lệ phát hiện troponin thấp đã hạn chế lợi ích của nó trong thực hành lâm sàng.

Bác sĩ James A de Lemos (Trung tâm Y khoa Tây Nam Texas, Dallas) và cộng sự sử dụng phương pháp siêu nhạy đã ghi nhận có sự liên quan rõ rệt giữa troponin T và bệnh tim cấu trúc và nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân.

Nghiên cứu được tiến hành với xác định nồng độ troponin T bằng cả hai phương pháp thông thường và siêu nhạy ở 3546 người có độ tuổi từ 30 - 65 trong thời gian 2000 - 2002. Đối tượng nghiên cứu được phân thành năm nhóm theo nồng độ troponin T. Tiêu chí chính là chức năng và cấu trúc tim được đánh giá bằng hình ảnh cộng hưởng từ tim mạch và tỷ vong trong thời gian theo dõi trung bình là 6,4 năm.

Tỷ lệ troponin T được phát hiện (³ 0,003ng/ml) là 25% (95%CI 22,7% - 27,4%) bằng phương pháp siêu nhạy so với 0,7% (95%CI 0,3% - 1,1%)bằng phương pháp thông thường. Tỷ lệ là 37,1% (95%CI 33,3% - 41,0%) ở nam so với 12,9% (95%CI 10,6% - 15,2%) ở nữ và 14% (95%CI 11,2% - 16,9%) ở đối tượng nhỏ hơn 40 tuổi so với 57,6% (95%CI 47,0% - 68,2%) ở đối tượng lớn hơn 60 tuổi. Tỷ lệ phì đại thất trái tăng từ 7,5% (95%CI 6,4% - 8,8%) ở phân nhóm troponin T thấp nhất (< 0,003ng/ml) đến 48,1% (95%CI 36,7% - 59,6%) ở phân nhóm troponin T cao nhất (³ 0,014ng/ml) (p < 0,001); tỷ lệ rối loạn chức năng tâm thu thất trái cũng tăng dần theo phân nhóm (p < 0,001). Sau thời gian theo dõi trung bình 6,4 năm, có tổng cộng 151 trường hợp tử vong, trong đó có 62 trường hợp tử vong do bệnh lý tim mạch. Tử vong do mọi nguyên nhân tăng từ 1,9% (95%CI 1,5% - 2,6%) đến 28,4% (95%CI 21% - 37,8%) khi phân nhóm có troponin T càng cao (p< 0,001). Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố nguy cơ truyền thống; nồng độ CRP; nồng độ NT-proBNP, nồng độ troponin T vẫn có liên quan độc lập với tử vong do mọi nguyên nhân (HR hiệu chỉnh 2,8 với 95%CI 1,4-5,2).

Bác sĩ James A de Lemos cho rằng nên xem xét sử dụng cTnT, một dấu ấn đánh giá tổn thương "cơ quan đích" tim mạch, là một xét nghiệm sàng lọc.

(From JAMA 2010; 304 (22): 2503 - 2512)

Mỗi năm, vào mùng 1 Tết, khoa tim mạch tiếp nhận đa số là bệnh nhân (BN) suy tim (ST) nhập viện vì than mệt khó thở. Sau đó, mùng 2 - 4 Tết là những BN tăng huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh ST, bệnh van tim, huyết khối tĩnh mạch... Thông thường trước Tết, khoa tim mạch sẽ cho BN xuất viện về và dặn dò kỹ cách uống thuốc, chế độ ăn uống sinh hoạt, toa thuốc thường từ 15 - 30 ngày. Phòng khám tim mạch, cũng cho thuốc 1 tháng ở những BN tái khám, để cho BN ăn Tết cổ truyền. Tuy nhiên, dù dặn dò kỹ, có những BN vẫn phải nhập viện ăn Tết chỉ vì lý do đơn giản vui quá chén, ăn mặn nhiều, uống bia, uống rượu, ít vận động, stress, đi chơi xa, hoạt động tình dục. Vậy để BN ST đón Tết trọn vẹn thì phải phòng ngừa thế nào?

Thuốc uống

Uống đúng theo toa của bác sĩ, đủ ngày, đủ liều lượng, không được tự ý thấy khỏe mà ngừng thuốc. Khi có những triệu chứng bất thường tăng dần hay không cải thiện sau khi uống thuốc vài ngày thì cần khám ngay, bất kể mùng nào.

Chế độ ăn

Nếu ăn mặn nhiều sẽ làm tăng huyết áp ở những BN ST, khi huyết áp lên cao vọt, khó khống chế sẽ làm BN phù phổi cấp dẫn đến nhập viện cấp cứu. Không khuyến khích uống rượu. Uống nhiều rượu bia quá mức làm cho huyết áp tăng, có thể gây tai biến mạch máu não ở BN ST hoặc làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim ở BN ST do bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ.

Bệnh nhân suy tim cần ăn lạt, giảm muối, không uống bia rượu.

Cần phải ăn giảm muối (giảm natri), ở BN ST độ II và III theo NYHA, trong khi chế biến thức ăn chỉ nên cho khoảng 2 - 3g muối/ngày, không quá 4g muối. Còn ST độ IV thì cần giảm muối chặt chẽ không quá 2g/ ngày, có khi phải ăn lạt hoàn toàn. Không uống nước khoáng có nhiều natribicarbonat, không uống nước mì chính (có nhiều natri glutamat). Không dùng thức ăn có nhiều muối như: dưa, cà, cá khô, bánh mặn, thịt ướp muối… Không dùng thức ăn có nhiều cholesterol. Nên dùng rau quả tươi chứa nhiều kali, vitamin A, C, E, caroten. BN ST có đái tháo đường kèm theo thì nên tuân thủ chế độ ăn ở người đái tháo đường.

Chế độ sinh hoạt

Ngày Tết là ngày vui vẻ của gia đình, không nên lo nghĩ căng thẳng, tránh các xúc động mạnh, tránh stress. Stress sẽ làm tăng hoạt tính giao cảm làm nhịp nhanh dẫn đến không có lợi ở BN ST.

Chế độ làm việc nghỉ ngơi hợp lý, công việc tĩnh tại, không đòi hỏi di chuyển nhiều. Với ST độ I theo NYHA, BN vẫn có thể tiếp tục hoạt động bình thường, nhưng nên tránh những việc đòi hỏi phải gắng sức nặng như: bưng chậu mai lên lầu, leo trèo sửa mái nhà… Với ST độ II, cần giảm mức độ hoạt động, thời gian nghỉ trong ngày nhiều hơn, bảo đảm tốt giấc ngủ. Với ST độ III, cần nghỉ ngơi làm việc nhẹ thích hợp. ST độ IV thì nghỉ ngơi hoàn toàn, không nên làm việc, dù là việc nhẹ như quét nhà.

Không nên đi chơi xa đối với ST độ III và IV, còn độ I và II thì có thể đi chơi, nhưng cũng cần hạn chế. BN ST độ III và IV mà đi máy bay, nhất là đường dài (đi nước ngoài, mất nhiều giờ bay) sẽ không có lợi, vì dễ mất nước, phù chân, có thể bị huyết khối tĩnh mạch chân, thuyên tắc phổi. Do đó nên bay đường ngắn (trong nước).

Vận động thể lực

Trong dịp Tết, đừng quên việc tập thể lực. ST độ I, II, cần vận động thể lực nhẹ nhàng như: đi bộ, tập thở, tập thể dục tại chỗ trong thời gian 20 – 30 phút vào buổi sáng và buổi chiều để cải thiện dần khả năng gắng sức. Riêng độ III thì phải ổn định thật sự với điều trị, thì mới vận động thể lực như kể ở trên. Độ III chưa ổn định với điều trị, cần điều trị cho ổn, rồi mới tập thể lực. ST độ IV cần nghỉ ngơi, không vận động thể lực. Tuy nhiên, nên xoay trở thân mình nhẹ nhàng và xoa bóp các cơ để tăng lượng máu đến các cơ, tránh nguy cơ huyết khối chi dưới do nằm bất động.

Hạn chế hoạt động tình dục, nhất là BN ST độ III và IV. Vì những gắng sức, xúc cảm mạnh dễ làm cho ST tiến triển xấu đi.

BS. TRẦN MẠNH HÀ
Cơ quan quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ (FDA) vừa cảnh báo các bác sĩ và bệnh nhân về nguy cơ hại gan của thuốc điều trị tim mạch Multaq của hãng Sanofi-Aventis SA.

FDA cho biết họ đã nhận được nhiều báo cáo về việc tổn thương gan, trong đó có 2 trường hợp phụ nữ 70 tuổi cắt gan sau khi dùng thuốc này từ 4 đến 6 tháng. Thuốc này được FDA chấp thuận vào tháng 7-2009 để điều trị rối loạn nhịp tim và giảm đột quỵ.

Sanofi cho biết họ đã ra thông báo về khả năng hại gan của thuốc này tới các bác sĩ và đề nghị cho xét nghiệm chức năng gan trong vòng 6 tháng điều trị bằng thuốc Multaq.
K.M.

(SGGP).- Ngày 14-1, tại hội nghị khoa học kỹ thuật với sự tham gia của nhiều y bác sĩ đầu ngành tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức, một kết quả báo cáo khoa học ngoại lồng ngực đã được đánh giá cao.

Theo đó, BV Đa khoa khu vực Thủ Đức là bệnh viện loại 2 đầu tiên ở TPHCM triển khai phẫu thuật khâu vết thương tim trong trường hợp cấp cứu tối khẩn cấp. Trong 4 ca nhập vào cấp cứu do đa chấn thương ngực bụng đều có vết thương ở tim do vật nhọn gây ra. Các bệnh nhân đều bị sốc, mất máu, nguy cơ ngưng tim đột ngột và tử vong rất cao. Với sự phối hợp chặt giữa y bác sĩ các khoa cấp cứu, ngoại lồng ngực, gây mê và hồi sức, 3 bệnh nhân (ngụ tại TPHCM) được cứu sống kịp thời, 1 trường hợp tử vong sau 8 ngày phẫu thuật.

Theo đánh giá của giới chuyên môn, việc áp dụng được kỹ thuật mổ khâu vết thương tim ở các tuyến bệnh viện cửa ngõ như Thủ Đức là bước đột phá lớn, bởi cấp cứu bệnh nhân bị vết thương ở tim cần được can thiệp sớm nhất (khoảng thời gian vàng). Theo thống kê, tại một BV tuyến trung ương, trong số 126 ca bị vết thương ở tim, có 40 ca tử vong, trong đó 36 ca tử vong trước khi nhập vào cấp cứu.

Tr.Ngọc

(SGGP).- Sáng 14-1, Viện Tim TPHCM đã tổng kết hoạt động trợ giúp xã hội sau 19 năm thành lập và phát triển (1992-2011). 19 năm qua, Viện Tim TP trợ giúp kịp thời các bệnh nhân tim có hoàn cảnh khó khăn bằng cách hỗ trợ một phần hoặc hỗ trợ hoàn toàn chi phí ca phẫu thuật.

Đến nay đã có 6.000 trường hợp nhận sự trợ giúp chi phí chữa trị từ Hiệp hội Alain Carpentier, Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo TPHCM, Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh Kiên Giang và hàng trăm tổ chức, cá nhân hảo tâm khác với tổng số tiền đóng góp khoảng 200 tỷ đồng. Trong đó, Hiệp hội Alain Carpentier giúp khoảng 3.000 trường hợp, Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo TPHCM giúp 1.000 trường hợp và Kiên Giang giúp thực hiện 1.000 trường hợp cho các bệnh nhân tim nghèo khu vực ĐBSCL.

Cùng ngày, BS Phan Kim Phương, Giám đốc Viện tim đã thực hiện thành công ca phẫu thuật nhân đạo thứ 1.000. Bệnh nhân tên Huỳnh Hảo, sinh năm 2007, tại Kiên Giang.

P.Thục – A.Dung

BV Hoàn Mỹ Sài Gòn vừa cứu sống bệnh nhân (BN) nam 18 tuổi nhập viện trong tình trạng đã ngưng tim, ngưng thở, toàn thân tím tái, mạch và huyết áp không đo được, đồng tử giãn. Khai thác bệnh sử được biết, trong 2 - 3 ngày trước nhập viện, BN có biểu hiện mệt mỏi, đau nhức toàn thân và được cạo gió, sau đó vẫn sinh hoạt bình thường. Trước nhập viện chừng 10 phút, BN đang chơi bình thường thì đột ngột ngất xỉu và nhanh chóng được đưa vào phòng cấp cứu BV. Ngay lập tức, BN đã được hồi sức tích cực bằng xoa bóp tim ngoài lồng ngực, đặt nội khí quản, bóp bóng và sử dụng các thuốc vận mạch. BN được sốc điện cấp cứu chống rung thất, sau 25 phút hồi sức thì tình trạng bệnh có tiến triển tốt hơn. BN sau đó được chẩn đoán bị viêm cơ tim và chuyển tới BV chuyên khoa để theo dõi và điều trị.Theo các BS, viêm cơ tim là bệnh lý nguy hiểm, thường gặp ở những người trẻ và gây tử vong nếu không điều trị kịp thời.

NGUYỄN PHẠM (Theo SKĐS)
BV Nhi Đồng 1 TP.HCM vừa điều trị thành công trường hợp viêm phổi hoại tử gây tràn dịch và dày dính màng phổi cho cháu T.A.T, 4 tháng tuổi, ở huyện Hóc Môn, TP.HCM. Bệnh nhi được đưa đến BV Nhi Đồng 1 trong tình trạng sốt cao, ho nhiều, khó thở và bú kém. Các bác sĩ khoa hô hấp chẩn đoán bé bị viêm phổi nặng kèm theo tràn dịch màng phổi. Kết quả chụp CT-scan cũng cho thấy bé bị viêm hoại tử hầu hết phổi bên phải, xẹp và tràn dịch phổi phải có dày dính màng phổi. Sau hơn 2 tuần điều trị bằng kháng sinh mạnh, bé đã được phẫu thuật để bóc tách màng phổi bị dày dính do viêm vì nếu không phẫu thuật, nhu mô phổi bên bệnh sẽ không giãn nở tốt và ảnh hưởng đến chức năng hô hấp về sau. Sau vài ngày thở máy, tình trạng hô hấp của cháu đã cải thiện rõ rệt.
T.NHÀN

HƯỚNG DẪN CỦA HỘI TIM MẠCH HOA KỲ NĂM 2010: THỨ TỰ A-B-C TRONG HỒI SINH TIM PHỔI THAY ĐỔI LÀ C-A-B

Hướng dẫn của Hội Tim mạch Hoa Kỳ (American Heart Association: AHA) năm 2010 về hồi sinh tim phổi và cấp cứu tim mạch dựa trên những y văn toàn diện và cập nhật nhất về lĩnh vực hồi sức. Hướng dẫn được biên soạn với sự tham gia của 356 chuyên gia hồi sức từ 29 quốc gia.

Điểm mới đáng lưu ý trong hướng dẫn này là thay đổi thứ tự quy trình A-B-C (Aiway: kiểm soát đường thở; Breathing: thông khí cơ học - nhân tạo; Chest compressions: ép tim ngoài lồng ngực) thành C-A-B. Ép tim ngoài lồng ngực cần là bước đầu tiên khi có ngừng tim. Khuyến cáo về sự thay đổi vì các lý do sau:

Phần lớn ngừng tim xảy ra ở người lớn. Tỷ lệ sống sót cao nhất sau ngừng tim được ghi nhận ở bệnh nhân được phát hiện kịp thời, rối loạn nhịp rung thất hoặc nhanh thất vô mạch. Ở những bệnh nhân này yếu tố quyết định đầu tiên của hồi sinh tim phổi là ép tim ngoài lồng ngực và phá rung sớm. Trong quy trình theo thứ tự A-B-C, ép tim ngoài lồng ngực thường chậm trễ khi người cấp cứu khai thông đường thở để hô hấp nhân tạo miệng - miệng hoặc điều chỉnh dụng cụ giúp thở hoặc phương tiện thông khí khác. Với sự thay đổi thứ tự C-A-B, ép tim ngoài lồng ngực sẽ bắt đầu sớm hơn và thông khí chỉ chậm rất ít sau hoàn tất lượt ép tim ngoài lồng ngực đầu tiên (30 lần ép tim cần được thực hiện trong khoảng 18 giây). Ít hơn 50% bệnh nhân ngừng tim được hồi sinh tim phổi kịp thời. Có thể có nhiều nguyên nhân cho điều này, nhưng một trở ngại có thể là trình tự hồi sinh A-B-C mà khi bắt đầu với các thủ thuật, người cấp cứu gặp nhiều khó khăn trong khai thông đường thở và đặt dụng cụ hỗ trợ hô hấp. Do vậy, bắt đầu với ép tim ngoài lồng ngực có thể có nhiều nạn nhân được hồi sinh tim phổi hơn và ít nhất đối với những người cấp cứu không thể hoặc không sẵn lòng hô hấp thông khí cũng thực hiện ép tim ngoài lồng ngực.

Hướng dẫn mới khuyến cáo tăng tốc độ ép tim ngoài lồng ngực với tần số ít nhất 100 lần trong một phút. Chiều sâu khi ép tim ngoài lồng ngực đối với nạn nhân người lớn tăng từ 1,5 - 2 inch đến ít nhất là 2 inch (1 inch = 2,54cm).

Bên cạnh đó, hướng dẫn cũng có một số thay đổi. Sơ đồ hồi sinh tim phổi cơ bản đã đơn giản hóa, và "Quan sát, Nghe và Sờ" được đưa ra khỏi sơ đồ.  Thực hiện các bước này không nhất quán và tốn thời gian. Vì lý do này, hướng dẫn của Hội Tim mạch Hoa Kỳ năm 2010 nhấn mạnh hoạt hóa tức thì hệ thống hỗ trợ cấp cứu và bắt đầu ép tim ngoài lồng ngực cho mọi nạn nhân người lớn mất ý thức ngưng thở hoặc rối loạn nhịp thở.

(Emma Hitt, Medscape Medical News)

 

TỶ SỐ VÒNG EO/CHIỀU CAO CÓ THỂ TIÊN ĐOÁN NGUY CƠ BỆNH LÝ TIM MẠCH DO CHUYỂN HÓA Ở TRẺ CÂN NẶNG BÌNH THƯỜNG

Chỉ số khối cơ thể (body mass index: BMI) được sử dụng rộng rãi để đánh giá ảnh hưởng của béo phì đối với nguy cơ bệnh lý tim mạch do chuyển hóa ở trẻ em nhưng nó ít liên quan đến béo phì trung tâm và thay đổi theo sự phát triển và trưởng thành của trẻ. Tỷ số vòng eo/chiều cao (waist-to-height raio: WHtR) là một chỉ số nhân chủng học tương đối ổn định của béo bụng theo tuổi, giới và nhóm chủng tộc. Jasmeet S Mokha (Trung tâm nghiên cứu sức khỏe Đại học Tulane, New Orleans, Louisiana) và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu tìm hiểu lợi ích của tỷ số vòng eo/chiều cao trong đánh giá tình trạng béo bụng và nguy cơ bệnh lý tim mạch do chuyển hóa giữa những trẻ cân nặng bình thường và trẻ quá cân/béo phì.

Mẫu nghiên cứu gồm 3091 trẻ tuổi từ 4 - 18, một nữa là trẻ trai và 56% da trắng. Các tác giả xác định các biến số yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch do chuyển hóa cắt ngang và sử dụng bách phân vị BMI chuẩn hóa theo tuổi; chủng tộc và giới để phân chia thành cân nặng bình thường (bách phân vị thứ 5 - thứ 85) hoặc quá cân/béo phì (bách phân vị ³ 85). Dựa trên tỷ số vòng eo/chiều cao ( < 0,5: không có béo phì trung tâm so với ³ 0,5: có béo phì trung tâm), so sánh nguy cơ tim mạch mỗi nhóm.

9,2% trẻ nhóm cân nặng bình thường có béo phì trung tâm và 19,8% trẻ nhóm quá cân/béo phì không có béo phì trung tâm.

Dựa trên phân tích đa biến, thay đổi bất lợi nồng độ LDL-C, HDL-C, TG và insulin thường xảy ra ở trẻ cân nặng bình thường có béo phì trung tâm (OR lần lượt là 1,66; 2,01; 1,47 và 2,05). Trẻ cân nặng bình thường có béo phì trung tâm có tỷ lệ cao hơn về tiền căn cha mẹ mắc bệnh đái tháo đường týp 2 và hội chứng chuyển hóa (p < 0,0001).

Trong nhóm trẻ quá cân/béo phì, trẻ không có béo phì trung tâm ít thay đổi bất lợi nồng độ HDL-C với OR=0,53 và HOMA-IR với OR=0,27. Tỷ lệ tiền căn cha mẹ tăng huyết áp, đái tháo đường týp 2 và hội chứng chuyển hóa thấp hơn đáng kể ở những trẻ quá cân/béo phì mà không có béo phì trung tâm (với lần lượt giá trị p = 0,02; p = 0,03; và p < 0,001).

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ số vòng eo/chiều cao không chỉ phát hiện béo phì trung tâm và nguy cơ bệnh tim mạch do chuyển hóa ở những trẻ cân nặng bình thường, mà còn xác định trẻ không bị béo phì trung tâm và các yếu tố nguy cơ ở nhóm trẻ quá cân/béo phì. Do vậy, tỷ lệ vòng eo/chiều cao nên được sử dụng rộng rãi hơn như là một phép đo đơn giản để đánh giá nguy cơ tim mạch do chuyển hóa trong thực hành chăm sóc sức khỏe nhi khoa.

(Laurie Barclay, Medscape Medical News)

 

CHỨC NĂNG THẬN KÉM LIÊN QUAN NGUY CƠ BỆNH TIM MẠCH VÀ ĐỘT QUỴ

Chức năng thận kém, ngay cả ở các giai đoạn sớm nhất, báo hiệu nguy cơ lớn bệnh tim mạch và đột quỵ.

Một phân tích gộp gồm 33 nghiên cứu tiền cứu với cỡ mẫu n = 284672, Meng Lee (Đại học California, Los Angeles) và cộng sự ghi nhận độ lọc cầu thận thấp liên quan độc lập với đột quỵ. Bệnh nhân có độ lọc cầu thận < 60ml/phút/1,73m2 nguy cơ đột quỵ lớn hơn 43% (95%CI, 1,31-1,57, p<0,001) trong 3 - 15 năm theo dõi so với người có độ lọc cầu thận bình thường.

Emanuelle Di Angelantionio (Đại học Cambridge, Anh quốc) và cộng sự thực hiện một nghiên cứu gồm có 16958 người tuổi từ 33-81 không có biểu hiện bệnh mạch máu và đầy đủ thông tin để xác định giai đoạn bệnh thận mãn (dựa trên độ lọc cầu thận) lúc vào nghiên cứu. Các tác giả nhận thấy tỷ số rủi ro (hazard ratio: HR) tăng khi giai đoạn bệnh thận tăng. Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch thông thường, tỷ số rủi ro bệnh động mạch vành là 1,55 (95% CI, 1,02-2,35) đối với giai đoạn I; 1,72 (95% CI, 1,30-2,24) đối với giai đoạn II; 1,39 (95% CI, 1,22-1,58) đối với giai đoạn IIIa; 1,90 (95% CI, 1,22-2,96) đối với giai đoạn IIIb, và 4,29 (95% CI, 1,78-10,32) đối với bệnh thận mãn giai đoạn IV.

Theo Vlado Perkovic và Alan Cass (Viện sức khỏe toàn cầu George, Sydney, Úc), sự hiện diện bệnh thận mãn (giảm độ lọc cầu thận) như là một "cảnh báo đỏ" để khởi động đánh giá nguy cơ tim mạch và có chiến lược dự phòng thích hợp.

(Fran Lowry, Medscape Medical News )


BỆNH GAN NHIỄM MỠ KHÔNG DO RƯỢU CÓ THỂ LÀM TĂNG NGUY CƠ BỆNH TIM MẠCH

Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch. Thông tin này đã được đăng tải trên New England Journal of Medicine vào ngày 30 tháng 9.

Theo tiến sĩ Giovanni Targher và cộng sự, Đại học Verona, Ý: "Tăng gánh nặng bệnh tật và tử vong do bệnh tim mạch dường như là đặc điểm lâm sàng quan trọng nhất của bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu". Hiện tại, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy bệnh tim mạch là nguyên nhân hàng đầu của tử vong ở bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu và bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch bất kể các yếu tố nguy cơ cổ điển và những thành phần của hội chứng chuyển hóa đang có. Mặc dù cần phải nghiên cứu thêm trước khi đưa ra kết luận, từ kết quả này có thể suy đoán là những thay đổi mô học của viêm và hoại tử trong bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu không chỉ là chất đánh dấu bệnh tim mạch mà còn tham gia vào quá trình bệnh sinh của chúng.

Cơ chế liên kết giữa bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu và bệnh tim mạch vẫn chưa được hiểu đầy đủ, có thể là do mập phì vùng bụng và việc giải phóng các hóa chất trung gian gây xơ vữa trong hệ tuần hoàn từ gan bị viêm và nhiễm mỡ. Những cơ chế quan trọng khác cũng có thể góp phần là tình trạng đề kháng insulin, các bất thường đông máu và rối loạn lipid máu sinh xơ vữa. Tất cả đều là những yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng.

Vì thế, cải thiện tình trạng đề kháng insulin và giảm các yếu tố của hội chứng chuyển hóa là mục đích điều trị lý tưởng cho bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu cũng như là cho các bệnh tim mạch khác. Ăn kiêng và tập luyện thể lực để đạt cân nặng lý tưởng, cũng như điều trị các thành phần riêng lẽ của hội chứng chuyển hóa được khuyến cáo, nhất là những điều trị có lợi cho gan.

Những điều trị này gồm phẫu thuật giảm cân cho bệnh nhân mập phì và các thuốc tác động lên hệ thống renin-angiotensin-aldosterone ở người tăng huyết áp. Đái tháo đường type 2 cũng nên được điều trị bằng metformin và thiazolidinedione (nhất là pioglitazone) nhằm vào cơ chế tăng nhạy cảm insulin. Các nghiên cứu trên pioglitazone đã cung cấp bằng chứng cho thấy lợi ích của thiazolidinedione ở bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu. Khác với rosiglitazone, nguy cơ biến cố tim mạch dường như cũng không tăng khi điều trị với pioglitazone.

Mặc dù statin và các tác nhân giảm lipid máu khác có thể dùng an toàn ở bệnh nhân đúng chỉ định kê các thuốc này như bệnh nhân đái tháo đường với nguy cơ tim mạch cao, bằng chứng cho đến hiện tại không cho thấy bất kỳ ích lợi đặc biệt nào ở bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu. Tuy nhiên, ở bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu đã có từ trước, các thuốc statin cũng không làm tăng nguy cơ ngộ độc gan đặc ứng, gan nhiễm mỡ hoặc các bất thường về nồng độ alanin aminotransferase trong huyết thanh.

Theo các tác giả, vẫn chưa rõ là cải thiện tình trạng gan nhiễm mỡ không do rượu có giúp phòng ngừa hoặc làm chậm sự xuất hiện và tiến triển của bệnh lý tim mạch hay không. Ngoài ra, giá trị tiên lượng của bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu trong việc phân tầng nguy cơ tim mạch vẫn còn bàn cãi. Tuy nhiên, mối liên hệ mạnh giữa bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu và nguy cơ tim mạch cần phải được chú ý để có chiến lược tầm soát và theo dõi thích hợp trên lâm sàng.

Điều trị thuốc nên được dùng chủ yếu ở bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu khi bệnh đang tiến triển. Tuy nhiên, vấn đề là cần phải xây dựng các hướng dẫn điều trị cho bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu vì hiện tại chỉ có vài thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, mẫu lớn trong việc theo dõi mô học và các biến cố tim mạch.

Trên lý thuyết, các chất chống oxid hóa, các tác nhân kháng cytokine và các thuốc bảo vệ gan kể cả acid mật có vẻ như có lợi cho bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu. Mặc dù các dữ kiện ban đầu cho thấy một lợi ích tiềm tàng, hiện vẫn chưa đủ bằng chứng để ủng hộ hoặc không ủng hộ các tác nhân này như là điều trị chuẩn cho bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu.

Dựa trên các bằng chứng hiện có, cần theo dõi và đánh giá cẩn thận nguy cơ bệnh tim mạch ở tất cả bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu - Nhóm nghiên cứu nhận định. Những bệnh nhân này không chỉ là ứng cử viên để điều trị sớm bệnh gan mà còn phải điều trị sớm và tích cực các yếu tố nguy cơ tim mạch bởi vì những bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu giai đoạn nặng sẽ có nguy cơ bị biến cố tim mạch nặng và tử vong trước khi xuất hiện bệnh gan giai đoạn cuối.

(Theo Medscape: http://www. medscape. com/viewarticle/729893)

BẰNG CHỨNG CỦA STRESS TRONG SỢI TÓC GIÚP TIÊN ĐOÁN NGUY CƠ NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP

Một nghiên cứu gần đây cho rằng có thể tìm thấy bằng chứng nhồi máu cơ tim bị thúc đẩy bởi stress trong sợi tóc của người. Điều này cho thấy stress mạn tính là một yếu tố góp phần đáng kể cho nhồi máu cơ tim cấp, tương tự như stress cấp tính(8).

Mối liên hệ giữa stress cấp tính và bệnh lý tim mạch đã được thiết lập từ lâu(2,5). Một nghiên cứu năm 2005 cho thấy huyết áp tâm thu của dân số Hoa Kỳ đã tăng lên trong vòng 2 tháng sau cuộc tấn công Tòa nhà Thương mại Thế giới vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 so với 2 tháng trước đó(5). Theo giáo sư Davig Pereg(2), Anh Quốc, stress cấp tính là yếu tố thúc đẩy nhồi máu cơ tim cấp. Vai trò của stress mạn tính trong nhồi máu cơ tim cấp ít rõ ràng hơn bởi vì sự đánh giá stress mạn tính tại thời điểm bị nhồi máu cơ tim cấp có thể gặp sai số do nhớ lại(2). Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu đều cho thấy mối liên hệ tương tự giữa stress mạn tính và bệnh lý tim mạch(1). Các căng thẳng thần kinh mạn tính như những lo lắng về công việc, hôn nhân, tài chính cũng làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch, kể cả nhồi máu cơ tim cấp. Hiện tại, chỉ có rất ít chất đánh dấu sinh học giúp đo lường stress mạn tính(4,10).

Các stress về thể chất và tinh thần đều hoạt hóa hệ thần kinh hormone, quan trọng nhất là trục hạ đồi-tuyến yên, giúp điều hòa việc sản xuất và bài tiết glucocorticoid (nhất là cortisol) từ vỏ thượng thận(8). Cortisol được xem là hormone đáp ứng với stress và tăng tiết khi bị stress. Theo truyền thống, cortisol được đo trong huyết thanh, nước tiểu và nước bọt(8). Tất cả các môi trường này đều đo nồng độ cortisol trong vòng vài ngày đến vài giờ qua nên không phản ánh chính xác đáp ứng của cơ thể với stress trong khoảng thời gian vài tháng trước đó hoặc lâu hơn(8). Gần đây, tính giá trị của việc đo cortisol trong tóc như là chất đánh dấu sinh học của stress mạn tính đã được công nhận(6,8).

Các thành phần ưa mỡ lưu thông trong tuần hoàn như cortisol có thể kết hợp với tóc sau khi khuếch tán từ các mao mạch nuôi dưỡng tóc vào những nang tóc đang phát triển. Khi tóc mọc dài ra khỏi da đầu, cortisol vẫn bị giữ lại ở những nang tóc bên trong. Thời điểm chính xác mà nồng độ cortisol ổn định ở nang tóc bên trong vẫn chưa được biết rõ nhưng tối thiểu là 6 tháng(8,10). Trung bình mỗi tháng tóc dài ra khoảng 1cm, vì vậy phân tích mẫu tóc sẽ phản ánh chính xác sự tiết cortisol nội sinh trong một thời gian dài, tương tự như việc dùng HbA1c để đánh giá sự ổn định của đường huyết(8). Điều quan trọng cần lưu ý là nang tóc cắm sâu xuống da đầu khoảng 3mm, nên nồng độ cortisol trong tóc không phản ánh các đáp ứng của cơ thể với stress tức thì hoặc gần đây(7). Theo nhiều tác giả, nồng độ cortisol trong tóc là một chất đánh dấu sinh học của stress mạn tính.

Pereg và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu cắt dọc để đánh giá nồng độ cortisol trong tóc trước khi bị một biến cố cấp tính(2). Kết quả của nghiên cứu bệnh chứng, tiền cứu trên 112 bệnh nhân đã được đăng trên tờ Stress ngày 2 tháng 9 năm 2010(2). Nghiên cứu này đã tuyển chọn 56 người nam trưởng thành với chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp (ST chênh lên hoặc không chênh lên) tại một Đơn vị Chăm sóc Tim mạch tích cực. Nhóm chứng gồm 56 bệnh nhân đang điều trị nội trú vì một bệnh lý khác. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật miễn dịch enzyme để đo nồng độ cortisol trong sợi tóc ở vị trí cách da đầu không quá 3 cm, thể hiện cho sự phơi nhiễm với stress trong vòng 3 tháng gần đây nhất. Nồng độ trung bình của cortisol trong sợi tóc thay đổi từ 295,3 ng/g ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp đến 224,9 ng/g ở nhóm chứng (p = 0,006). Bằng phương pháp hồi quy đa biến, sau khi đã kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch khác như tuổi, LDL và HDL-cholesterol, chỉ số khối cơ thể, tình trạng hút thuốc lá và nhồi máu cơ tim trước đây, kết quả cho thấy nồng độ cortisol trong sợi tóc giúp tiên đoán mạnh nhất nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp (OR = 17,4 với khoảng tin cậy 95% là 2,15 - 140,5; p = 0,007)

Theo các tác giả(2), kết quả từ nghiên cứu này cho thấy nồng độ cortisol trong sợi tóc như là yếu tố tiên đoán nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp mạnh nhất đã làm nổi bật vai trò của stress mạn tính, vốn thường bị các thầy thuốc xem nhẹ. Đo nồng độ cortisol trong sợi tóc, khi kết hợp với đánh giá và điều trị tích cực các yếu tố nguy cơ tim mạch cổ điển giúp nhận diện những bệnh nhân có nguy cơ cao bị các biến cố tim mạch trong tương lai- Nhóm nghiên cứu kết luận(2).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Davenport MD, Tiefenbacher S, Lutz CK, Novak MA, Meyer JS. 2006. Analysis of endogenous cortisol concentrations in the hair of rhesus macaques. Gen Comp Endocrinol 147: 255-261.

2. Evidence of Stress in Hair Predicts AMI. http://www.medscape.com/viewarticle/728238

3. Gerin W, Chaplin W, Schwartz JE, Holland J, Alter R, Wheeler R, Duong D, Pickering TG. 2005. Sustained blood pressure increase after an acute stressor: The effects of the 11 September 2001 attack on the New York City World Trade Center. J Hypertens 23(2):279-284.

4. Kornitzer M, deSmet P, Sans S, Dramaix M, Boulenguez C, DeBacker G, Ferrario M, Houtman I, Isacsson SO, Ostergren PO, Peres I, Pelfrene E, Romon M, Rosengren A, Cesana G, Wilhelmsen L. 2006. Job stress and major coronary events: Results from the job stress, absenteeism and coronary heart disease in Europe study. Eur J Cardiovasc Prev Rehabil 13: 695-704.

5. Leor J, Poole WK, Kloner RA. 1996. Sudden cardiac death triggered by an earthquake. N Engl J Med 334:413-419.

6. Mittleman MA,Maclure M, Tofler GH, Sherwood JB, Goldberg RJ, Muller JE. 1993. Triggering of acute myocardial infarction by heavy physical exertion. Protection against triggering by regular exertion. Determinants of myocardial infarction onset study investigators. N Engl J Med 329:1677-1683.

7. Pragst F, Balikova MA. 2006. State of the art in hair analysis for detection of drug and alcohol abuse. Clin Chim Acta 370: 17-49.

8.Pereg D, Gow R, Mosseri M, et al. Hair cortisol and the risk for acute myocardial infarction in men. Stress 2010; DOI:10.3109/10253890/2010.511352.

http://informahealthcare.com/journal/sts.

9. Rosengren A, Hawken S, Ounpuu S, Sliwa K, Zubaid M, Almahmeed WA, Blackett KN, Sitthi-amorn C, Sato H, Yusuf S. 2004. Association of psychosocial risk factors with risk of acute myocardial infarction in 11119 cases and 13648 controls from 52 countries (the INTERHEART study): Casecontrol study. Lancet 364:953-962.

10. Van Uum SH, Sauve´ B, Fraser LA, Morley-Forster P, Paul TL, Koren G. 2008. Elevated content of cortisol in hair of patients with severe chronic pain: A novel biomarker for stress. Stress 11: 483-488.

(SGGP). – Tin từ Học viện Quân y cho biết, đơn vị này vừa triển khai thành công mô hình nghiên cứu ghép khối ung thư người trên dòng chuột đột biến gen, thiếu hụt miễn dịch.
TS - bác sĩ Nguyễn Lĩnh Toàn, Chủ nhiệm bộ môn Sinh lý bệnh (Học viện Quân y) cho biết, đây là mô hình đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới, nhưng ở Việt Nam lần đầu tiên thực hiện. Mô hình này cho phép các nhà khoa học khám phá khối ung thư từ nguồn gốc ban đầu, quá trình phát triển với những tương tác sinh học giữa cơ thể và khối u, mang lại hiệu quả lớn trong trị liệu ung thư.

Bước đầu, nhóm nghiên cứu của Học viện Quân y đã ghép thành công 2 dòng ung thư người (ung thư tuyến tiền liệt và ung thư thanh quản) trên 40 con chuột thiếu hụt miễn dịch này. Sau ghép khối u phát triển có đường kính trung bình 0,74cm sau 3 tuần và 1,2cm sau 4 tuần ghép với 106 tế bào/chuột.

T.BÌNH