slogan

 
 

TIN TỨC

Cơ quan quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ (FDA) vừa cảnh báo các bác sĩ và bệnh nhân về nguy cơ hại gan của thuốc điều trị tim mạch Multaq của hãng Sanofi-Aventis SA.

FDA cho biết họ đã nhận được nhiều báo cáo về việc tổn thương gan, trong đó có 2 trường hợp phụ nữ 70 tuổi cắt gan sau khi dùng thuốc này từ 4 đến 6 tháng. Thuốc này được FDA chấp thuận vào tháng 7-2009 để điều trị rối loạn nhịp tim và giảm đột quỵ.

Sanofi cho biết họ đã ra thông báo về khả năng hại gan của thuốc này tới các bác sĩ và đề nghị cho xét nghiệm chức năng gan trong vòng 6 tháng điều trị bằng thuốc Multaq.
K.M.

(SGGP).- Ngày 14-1, tại hội nghị khoa học kỹ thuật với sự tham gia của nhiều y bác sĩ đầu ngành tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức, một kết quả báo cáo khoa học ngoại lồng ngực đã được đánh giá cao.

Theo đó, BV Đa khoa khu vực Thủ Đức là bệnh viện loại 2 đầu tiên ở TPHCM triển khai phẫu thuật khâu vết thương tim trong trường hợp cấp cứu tối khẩn cấp. Trong 4 ca nhập vào cấp cứu do đa chấn thương ngực bụng đều có vết thương ở tim do vật nhọn gây ra. Các bệnh nhân đều bị sốc, mất máu, nguy cơ ngưng tim đột ngột và tử vong rất cao. Với sự phối hợp chặt giữa y bác sĩ các khoa cấp cứu, ngoại lồng ngực, gây mê và hồi sức, 3 bệnh nhân (ngụ tại TPHCM) được cứu sống kịp thời, 1 trường hợp tử vong sau 8 ngày phẫu thuật.

Theo đánh giá của giới chuyên môn, việc áp dụng được kỹ thuật mổ khâu vết thương tim ở các tuyến bệnh viện cửa ngõ như Thủ Đức là bước đột phá lớn, bởi cấp cứu bệnh nhân bị vết thương ở tim cần được can thiệp sớm nhất (khoảng thời gian vàng). Theo thống kê, tại một BV tuyến trung ương, trong số 126 ca bị vết thương ở tim, có 40 ca tử vong, trong đó 36 ca tử vong trước khi nhập vào cấp cứu.

Tr.Ngọc

(SGGP).- Sáng 14-1, Viện Tim TPHCM đã tổng kết hoạt động trợ giúp xã hội sau 19 năm thành lập và phát triển (1992-2011). 19 năm qua, Viện Tim TP trợ giúp kịp thời các bệnh nhân tim có hoàn cảnh khó khăn bằng cách hỗ trợ một phần hoặc hỗ trợ hoàn toàn chi phí ca phẫu thuật.

Đến nay đã có 6.000 trường hợp nhận sự trợ giúp chi phí chữa trị từ Hiệp hội Alain Carpentier, Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo TPHCM, Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo tỉnh Kiên Giang và hàng trăm tổ chức, cá nhân hảo tâm khác với tổng số tiền đóng góp khoảng 200 tỷ đồng. Trong đó, Hiệp hội Alain Carpentier giúp khoảng 3.000 trường hợp, Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo TPHCM giúp 1.000 trường hợp và Kiên Giang giúp thực hiện 1.000 trường hợp cho các bệnh nhân tim nghèo khu vực ĐBSCL.

Cùng ngày, BS Phan Kim Phương, Giám đốc Viện tim đã thực hiện thành công ca phẫu thuật nhân đạo thứ 1.000. Bệnh nhân tên Huỳnh Hảo, sinh năm 2007, tại Kiên Giang.

P.Thục – A.Dung

BV Hoàn Mỹ Sài Gòn vừa cứu sống bệnh nhân (BN) nam 18 tuổi nhập viện trong tình trạng đã ngưng tim, ngưng thở, toàn thân tím tái, mạch và huyết áp không đo được, đồng tử giãn. Khai thác bệnh sử được biết, trong 2 - 3 ngày trước nhập viện, BN có biểu hiện mệt mỏi, đau nhức toàn thân và được cạo gió, sau đó vẫn sinh hoạt bình thường. Trước nhập viện chừng 10 phút, BN đang chơi bình thường thì đột ngột ngất xỉu và nhanh chóng được đưa vào phòng cấp cứu BV. Ngay lập tức, BN đã được hồi sức tích cực bằng xoa bóp tim ngoài lồng ngực, đặt nội khí quản, bóp bóng và sử dụng các thuốc vận mạch. BN được sốc điện cấp cứu chống rung thất, sau 25 phút hồi sức thì tình trạng bệnh có tiến triển tốt hơn. BN sau đó được chẩn đoán bị viêm cơ tim và chuyển tới BV chuyên khoa để theo dõi và điều trị.Theo các BS, viêm cơ tim là bệnh lý nguy hiểm, thường gặp ở những người trẻ và gây tử vong nếu không điều trị kịp thời.

NGUYỄN PHẠM (Theo SKĐS)
BV Nhi Đồng 1 TP.HCM vừa điều trị thành công trường hợp viêm phổi hoại tử gây tràn dịch và dày dính màng phổi cho cháu T.A.T, 4 tháng tuổi, ở huyện Hóc Môn, TP.HCM. Bệnh nhi được đưa đến BV Nhi Đồng 1 trong tình trạng sốt cao, ho nhiều, khó thở và bú kém. Các bác sĩ khoa hô hấp chẩn đoán bé bị viêm phổi nặng kèm theo tràn dịch màng phổi. Kết quả chụp CT-scan cũng cho thấy bé bị viêm hoại tử hầu hết phổi bên phải, xẹp và tràn dịch phổi phải có dày dính màng phổi. Sau hơn 2 tuần điều trị bằng kháng sinh mạnh, bé đã được phẫu thuật để bóc tách màng phổi bị dày dính do viêm vì nếu không phẫu thuật, nhu mô phổi bên bệnh sẽ không giãn nở tốt và ảnh hưởng đến chức năng hô hấp về sau. Sau vài ngày thở máy, tình trạng hô hấp của cháu đã cải thiện rõ rệt.
T.NHÀN

HƯỚNG DẪN CỦA HỘI TIM MẠCH HOA KỲ NĂM 2010: THỨ TỰ A-B-C TRONG HỒI SINH TIM PHỔI THAY ĐỔI LÀ C-A-B

Hướng dẫn của Hội Tim mạch Hoa Kỳ (American Heart Association: AHA) năm 2010 về hồi sinh tim phổi và cấp cứu tim mạch dựa trên những y văn toàn diện và cập nhật nhất về lĩnh vực hồi sức. Hướng dẫn được biên soạn với sự tham gia của 356 chuyên gia hồi sức từ 29 quốc gia.

Điểm mới đáng lưu ý trong hướng dẫn này là thay đổi thứ tự quy trình A-B-C (Aiway: kiểm soát đường thở; Breathing: thông khí cơ học - nhân tạo; Chest compressions: ép tim ngoài lồng ngực) thành C-A-B. Ép tim ngoài lồng ngực cần là bước đầu tiên khi có ngừng tim. Khuyến cáo về sự thay đổi vì các lý do sau:

Phần lớn ngừng tim xảy ra ở người lớn. Tỷ lệ sống sót cao nhất sau ngừng tim được ghi nhận ở bệnh nhân được phát hiện kịp thời, rối loạn nhịp rung thất hoặc nhanh thất vô mạch. Ở những bệnh nhân này yếu tố quyết định đầu tiên của hồi sinh tim phổi là ép tim ngoài lồng ngực và phá rung sớm. Trong quy trình theo thứ tự A-B-C, ép tim ngoài lồng ngực thường chậm trễ khi người cấp cứu khai thông đường thở để hô hấp nhân tạo miệng - miệng hoặc điều chỉnh dụng cụ giúp thở hoặc phương tiện thông khí khác. Với sự thay đổi thứ tự C-A-B, ép tim ngoài lồng ngực sẽ bắt đầu sớm hơn và thông khí chỉ chậm rất ít sau hoàn tất lượt ép tim ngoài lồng ngực đầu tiên (30 lần ép tim cần được thực hiện trong khoảng 18 giây). Ít hơn 50% bệnh nhân ngừng tim được hồi sinh tim phổi kịp thời. Có thể có nhiều nguyên nhân cho điều này, nhưng một trở ngại có thể là trình tự hồi sinh A-B-C mà khi bắt đầu với các thủ thuật, người cấp cứu gặp nhiều khó khăn trong khai thông đường thở và đặt dụng cụ hỗ trợ hô hấp. Do vậy, bắt đầu với ép tim ngoài lồng ngực có thể có nhiều nạn nhân được hồi sinh tim phổi hơn và ít nhất đối với những người cấp cứu không thể hoặc không sẵn lòng hô hấp thông khí cũng thực hiện ép tim ngoài lồng ngực.

Hướng dẫn mới khuyến cáo tăng tốc độ ép tim ngoài lồng ngực với tần số ít nhất 100 lần trong một phút. Chiều sâu khi ép tim ngoài lồng ngực đối với nạn nhân người lớn tăng từ 1,5 - 2 inch đến ít nhất là 2 inch (1 inch = 2,54cm).

Bên cạnh đó, hướng dẫn cũng có một số thay đổi. Sơ đồ hồi sinh tim phổi cơ bản đã đơn giản hóa, và "Quan sát, Nghe và Sờ" được đưa ra khỏi sơ đồ.  Thực hiện các bước này không nhất quán và tốn thời gian. Vì lý do này, hướng dẫn của Hội Tim mạch Hoa Kỳ năm 2010 nhấn mạnh hoạt hóa tức thì hệ thống hỗ trợ cấp cứu và bắt đầu ép tim ngoài lồng ngực cho mọi nạn nhân người lớn mất ý thức ngưng thở hoặc rối loạn nhịp thở.

(Emma Hitt, Medscape Medical News)

 

TỶ SỐ VÒNG EO/CHIỀU CAO CÓ THỂ TIÊN ĐOÁN NGUY CƠ BỆNH LÝ TIM MẠCH DO CHUYỂN HÓA Ở TRẺ CÂN NẶNG BÌNH THƯỜNG

Chỉ số khối cơ thể (body mass index: BMI) được sử dụng rộng rãi để đánh giá ảnh hưởng của béo phì đối với nguy cơ bệnh lý tim mạch do chuyển hóa ở trẻ em nhưng nó ít liên quan đến béo phì trung tâm và thay đổi theo sự phát triển và trưởng thành của trẻ. Tỷ số vòng eo/chiều cao (waist-to-height raio: WHtR) là một chỉ số nhân chủng học tương đối ổn định của béo bụng theo tuổi, giới và nhóm chủng tộc. Jasmeet S Mokha (Trung tâm nghiên cứu sức khỏe Đại học Tulane, New Orleans, Louisiana) và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu tìm hiểu lợi ích của tỷ số vòng eo/chiều cao trong đánh giá tình trạng béo bụng và nguy cơ bệnh lý tim mạch do chuyển hóa giữa những trẻ cân nặng bình thường và trẻ quá cân/béo phì.

Mẫu nghiên cứu gồm 3091 trẻ tuổi từ 4 - 18, một nữa là trẻ trai và 56% da trắng. Các tác giả xác định các biến số yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch do chuyển hóa cắt ngang và sử dụng bách phân vị BMI chuẩn hóa theo tuổi; chủng tộc và giới để phân chia thành cân nặng bình thường (bách phân vị thứ 5 - thứ 85) hoặc quá cân/béo phì (bách phân vị ³ 85). Dựa trên tỷ số vòng eo/chiều cao ( < 0,5: không có béo phì trung tâm so với ³ 0,5: có béo phì trung tâm), so sánh nguy cơ tim mạch mỗi nhóm.

9,2% trẻ nhóm cân nặng bình thường có béo phì trung tâm và 19,8% trẻ nhóm quá cân/béo phì không có béo phì trung tâm.

Dựa trên phân tích đa biến, thay đổi bất lợi nồng độ LDL-C, HDL-C, TG và insulin thường xảy ra ở trẻ cân nặng bình thường có béo phì trung tâm (OR lần lượt là 1,66; 2,01; 1,47 và 2,05). Trẻ cân nặng bình thường có béo phì trung tâm có tỷ lệ cao hơn về tiền căn cha mẹ mắc bệnh đái tháo đường týp 2 và hội chứng chuyển hóa (p < 0,0001).

Trong nhóm trẻ quá cân/béo phì, trẻ không có béo phì trung tâm ít thay đổi bất lợi nồng độ HDL-C với OR=0,53 và HOMA-IR với OR=0,27. Tỷ lệ tiền căn cha mẹ tăng huyết áp, đái tháo đường týp 2 và hội chứng chuyển hóa thấp hơn đáng kể ở những trẻ quá cân/béo phì mà không có béo phì trung tâm (với lần lượt giá trị p = 0,02; p = 0,03; và p < 0,001).

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ số vòng eo/chiều cao không chỉ phát hiện béo phì trung tâm và nguy cơ bệnh tim mạch do chuyển hóa ở những trẻ cân nặng bình thường, mà còn xác định trẻ không bị béo phì trung tâm và các yếu tố nguy cơ ở nhóm trẻ quá cân/béo phì. Do vậy, tỷ lệ vòng eo/chiều cao nên được sử dụng rộng rãi hơn như là một phép đo đơn giản để đánh giá nguy cơ tim mạch do chuyển hóa trong thực hành chăm sóc sức khỏe nhi khoa.

(Laurie Barclay, Medscape Medical News)

 

CHỨC NĂNG THẬN KÉM LIÊN QUAN NGUY CƠ BỆNH TIM MẠCH VÀ ĐỘT QUỴ

Chức năng thận kém, ngay cả ở các giai đoạn sớm nhất, báo hiệu nguy cơ lớn bệnh tim mạch và đột quỵ.

Một phân tích gộp gồm 33 nghiên cứu tiền cứu với cỡ mẫu n = 284672, Meng Lee (Đại học California, Los Angeles) và cộng sự ghi nhận độ lọc cầu thận thấp liên quan độc lập với đột quỵ. Bệnh nhân có độ lọc cầu thận < 60ml/phút/1,73m2 nguy cơ đột quỵ lớn hơn 43% (95%CI, 1,31-1,57, p<0,001) trong 3 - 15 năm theo dõi so với người có độ lọc cầu thận bình thường.

Emanuelle Di Angelantionio (Đại học Cambridge, Anh quốc) và cộng sự thực hiện một nghiên cứu gồm có 16958 người tuổi từ 33-81 không có biểu hiện bệnh mạch máu và đầy đủ thông tin để xác định giai đoạn bệnh thận mãn (dựa trên độ lọc cầu thận) lúc vào nghiên cứu. Các tác giả nhận thấy tỷ số rủi ro (hazard ratio: HR) tăng khi giai đoạn bệnh thận tăng. Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch thông thường, tỷ số rủi ro bệnh động mạch vành là 1,55 (95% CI, 1,02-2,35) đối với giai đoạn I; 1,72 (95% CI, 1,30-2,24) đối với giai đoạn II; 1,39 (95% CI, 1,22-1,58) đối với giai đoạn IIIa; 1,90 (95% CI, 1,22-2,96) đối với giai đoạn IIIb, và 4,29 (95% CI, 1,78-10,32) đối với bệnh thận mãn giai đoạn IV.

Theo Vlado Perkovic và Alan Cass (Viện sức khỏe toàn cầu George, Sydney, Úc), sự hiện diện bệnh thận mãn (giảm độ lọc cầu thận) như là một "cảnh báo đỏ" để khởi động đánh giá nguy cơ tim mạch và có chiến lược dự phòng thích hợp.

(Fran Lowry, Medscape Medical News )


BỆNH GAN NHIỄM MỠ KHÔNG DO RƯỢU CÓ THỂ LÀM TĂNG NGUY CƠ BỆNH TIM MẠCH

Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch. Thông tin này đã được đăng tải trên New England Journal of Medicine vào ngày 30 tháng 9.

Theo tiến sĩ Giovanni Targher và cộng sự, Đại học Verona, Ý: "Tăng gánh nặng bệnh tật và tử vong do bệnh tim mạch dường như là đặc điểm lâm sàng quan trọng nhất của bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu". Hiện tại, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy bệnh tim mạch là nguyên nhân hàng đầu của tử vong ở bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu và bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch bất kể các yếu tố nguy cơ cổ điển và những thành phần của hội chứng chuyển hóa đang có. Mặc dù cần phải nghiên cứu thêm trước khi đưa ra kết luận, từ kết quả này có thể suy đoán là những thay đổi mô học của viêm và hoại tử trong bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu không chỉ là chất đánh dấu bệnh tim mạch mà còn tham gia vào quá trình bệnh sinh của chúng.

Cơ chế liên kết giữa bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu và bệnh tim mạch vẫn chưa được hiểu đầy đủ, có thể là do mập phì vùng bụng và việc giải phóng các hóa chất trung gian gây xơ vữa trong hệ tuần hoàn từ gan bị viêm và nhiễm mỡ. Những cơ chế quan trọng khác cũng có thể góp phần là tình trạng đề kháng insulin, các bất thường đông máu và rối loạn lipid máu sinh xơ vữa. Tất cả đều là những yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng.

Vì thế, cải thiện tình trạng đề kháng insulin và giảm các yếu tố của hội chứng chuyển hóa là mục đích điều trị lý tưởng cho bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu cũng như là cho các bệnh tim mạch khác. Ăn kiêng và tập luyện thể lực để đạt cân nặng lý tưởng, cũng như điều trị các thành phần riêng lẽ của hội chứng chuyển hóa được khuyến cáo, nhất là những điều trị có lợi cho gan.

Những điều trị này gồm phẫu thuật giảm cân cho bệnh nhân mập phì và các thuốc tác động lên hệ thống renin-angiotensin-aldosterone ở người tăng huyết áp. Đái tháo đường type 2 cũng nên được điều trị bằng metformin và thiazolidinedione (nhất là pioglitazone) nhằm vào cơ chế tăng nhạy cảm insulin. Các nghiên cứu trên pioglitazone đã cung cấp bằng chứng cho thấy lợi ích của thiazolidinedione ở bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu. Khác với rosiglitazone, nguy cơ biến cố tim mạch dường như cũng không tăng khi điều trị với pioglitazone.

Mặc dù statin và các tác nhân giảm lipid máu khác có thể dùng an toàn ở bệnh nhân đúng chỉ định kê các thuốc này như bệnh nhân đái tháo đường với nguy cơ tim mạch cao, bằng chứng cho đến hiện tại không cho thấy bất kỳ ích lợi đặc biệt nào ở bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu. Tuy nhiên, ở bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu đã có từ trước, các thuốc statin cũng không làm tăng nguy cơ ngộ độc gan đặc ứng, gan nhiễm mỡ hoặc các bất thường về nồng độ alanin aminotransferase trong huyết thanh.

Theo các tác giả, vẫn chưa rõ là cải thiện tình trạng gan nhiễm mỡ không do rượu có giúp phòng ngừa hoặc làm chậm sự xuất hiện và tiến triển của bệnh lý tim mạch hay không. Ngoài ra, giá trị tiên lượng của bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu trong việc phân tầng nguy cơ tim mạch vẫn còn bàn cãi. Tuy nhiên, mối liên hệ mạnh giữa bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu và nguy cơ tim mạch cần phải được chú ý để có chiến lược tầm soát và theo dõi thích hợp trên lâm sàng.

Điều trị thuốc nên được dùng chủ yếu ở bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu khi bệnh đang tiến triển. Tuy nhiên, vấn đề là cần phải xây dựng các hướng dẫn điều trị cho bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu vì hiện tại chỉ có vài thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, mẫu lớn trong việc theo dõi mô học và các biến cố tim mạch.

Trên lý thuyết, các chất chống oxid hóa, các tác nhân kháng cytokine và các thuốc bảo vệ gan kể cả acid mật có vẻ như có lợi cho bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu. Mặc dù các dữ kiện ban đầu cho thấy một lợi ích tiềm tàng, hiện vẫn chưa đủ bằng chứng để ủng hộ hoặc không ủng hộ các tác nhân này như là điều trị chuẩn cho bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu.

Dựa trên các bằng chứng hiện có, cần theo dõi và đánh giá cẩn thận nguy cơ bệnh tim mạch ở tất cả bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu - Nhóm nghiên cứu nhận định. Những bệnh nhân này không chỉ là ứng cử viên để điều trị sớm bệnh gan mà còn phải điều trị sớm và tích cực các yếu tố nguy cơ tim mạch bởi vì những bệnh nhân gan nhiễm mỡ không do rượu giai đoạn nặng sẽ có nguy cơ bị biến cố tim mạch nặng và tử vong trước khi xuất hiện bệnh gan giai đoạn cuối.

(Theo Medscape: http://www. medscape. com/viewarticle/729893)

BẰNG CHỨNG CỦA STRESS TRONG SỢI TÓC GIÚP TIÊN ĐOÁN NGUY CƠ NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP

Một nghiên cứu gần đây cho rằng có thể tìm thấy bằng chứng nhồi máu cơ tim bị thúc đẩy bởi stress trong sợi tóc của người. Điều này cho thấy stress mạn tính là một yếu tố góp phần đáng kể cho nhồi máu cơ tim cấp, tương tự như stress cấp tính(8).

Mối liên hệ giữa stress cấp tính và bệnh lý tim mạch đã được thiết lập từ lâu(2,5). Một nghiên cứu năm 2005 cho thấy huyết áp tâm thu của dân số Hoa Kỳ đã tăng lên trong vòng 2 tháng sau cuộc tấn công Tòa nhà Thương mại Thế giới vào ngày 11 tháng 9 năm 2001 so với 2 tháng trước đó(5). Theo giáo sư Davig Pereg(2), Anh Quốc, stress cấp tính là yếu tố thúc đẩy nhồi máu cơ tim cấp. Vai trò của stress mạn tính trong nhồi máu cơ tim cấp ít rõ ràng hơn bởi vì sự đánh giá stress mạn tính tại thời điểm bị nhồi máu cơ tim cấp có thể gặp sai số do nhớ lại(2). Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu đều cho thấy mối liên hệ tương tự giữa stress mạn tính và bệnh lý tim mạch(1). Các căng thẳng thần kinh mạn tính như những lo lắng về công việc, hôn nhân, tài chính cũng làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch, kể cả nhồi máu cơ tim cấp. Hiện tại, chỉ có rất ít chất đánh dấu sinh học giúp đo lường stress mạn tính(4,10).

Các stress về thể chất và tinh thần đều hoạt hóa hệ thần kinh hormone, quan trọng nhất là trục hạ đồi-tuyến yên, giúp điều hòa việc sản xuất và bài tiết glucocorticoid (nhất là cortisol) từ vỏ thượng thận(8). Cortisol được xem là hormone đáp ứng với stress và tăng tiết khi bị stress. Theo truyền thống, cortisol được đo trong huyết thanh, nước tiểu và nước bọt(8). Tất cả các môi trường này đều đo nồng độ cortisol trong vòng vài ngày đến vài giờ qua nên không phản ánh chính xác đáp ứng của cơ thể với stress trong khoảng thời gian vài tháng trước đó hoặc lâu hơn(8). Gần đây, tính giá trị của việc đo cortisol trong tóc như là chất đánh dấu sinh học của stress mạn tính đã được công nhận(6,8).

Các thành phần ưa mỡ lưu thông trong tuần hoàn như cortisol có thể kết hợp với tóc sau khi khuếch tán từ các mao mạch nuôi dưỡng tóc vào những nang tóc đang phát triển. Khi tóc mọc dài ra khỏi da đầu, cortisol vẫn bị giữ lại ở những nang tóc bên trong. Thời điểm chính xác mà nồng độ cortisol ổn định ở nang tóc bên trong vẫn chưa được biết rõ nhưng tối thiểu là 6 tháng(8,10). Trung bình mỗi tháng tóc dài ra khoảng 1cm, vì vậy phân tích mẫu tóc sẽ phản ánh chính xác sự tiết cortisol nội sinh trong một thời gian dài, tương tự như việc dùng HbA1c để đánh giá sự ổn định của đường huyết(8). Điều quan trọng cần lưu ý là nang tóc cắm sâu xuống da đầu khoảng 3mm, nên nồng độ cortisol trong tóc không phản ánh các đáp ứng của cơ thể với stress tức thì hoặc gần đây(7). Theo nhiều tác giả, nồng độ cortisol trong tóc là một chất đánh dấu sinh học của stress mạn tính.

Pereg và cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu cắt dọc để đánh giá nồng độ cortisol trong tóc trước khi bị một biến cố cấp tính(2). Kết quả của nghiên cứu bệnh chứng, tiền cứu trên 112 bệnh nhân đã được đăng trên tờ Stress ngày 2 tháng 9 năm 2010(2). Nghiên cứu này đã tuyển chọn 56 người nam trưởng thành với chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp (ST chênh lên hoặc không chênh lên) tại một Đơn vị Chăm sóc Tim mạch tích cực. Nhóm chứng gồm 56 bệnh nhân đang điều trị nội trú vì một bệnh lý khác. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật miễn dịch enzyme để đo nồng độ cortisol trong sợi tóc ở vị trí cách da đầu không quá 3 cm, thể hiện cho sự phơi nhiễm với stress trong vòng 3 tháng gần đây nhất. Nồng độ trung bình của cortisol trong sợi tóc thay đổi từ 295,3 ng/g ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp đến 224,9 ng/g ở nhóm chứng (p = 0,006). Bằng phương pháp hồi quy đa biến, sau khi đã kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch khác như tuổi, LDL và HDL-cholesterol, chỉ số khối cơ thể, tình trạng hút thuốc lá và nhồi máu cơ tim trước đây, kết quả cho thấy nồng độ cortisol trong sợi tóc giúp tiên đoán mạnh nhất nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp (OR = 17,4 với khoảng tin cậy 95% là 2,15 - 140,5; p = 0,007)

Theo các tác giả(2), kết quả từ nghiên cứu này cho thấy nồng độ cortisol trong sợi tóc như là yếu tố tiên đoán nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp mạnh nhất đã làm nổi bật vai trò của stress mạn tính, vốn thường bị các thầy thuốc xem nhẹ. Đo nồng độ cortisol trong sợi tóc, khi kết hợp với đánh giá và điều trị tích cực các yếu tố nguy cơ tim mạch cổ điển giúp nhận diện những bệnh nhân có nguy cơ cao bị các biến cố tim mạch trong tương lai- Nhóm nghiên cứu kết luận(2).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Davenport MD, Tiefenbacher S, Lutz CK, Novak MA, Meyer JS. 2006. Analysis of endogenous cortisol concentrations in the hair of rhesus macaques. Gen Comp Endocrinol 147: 255-261.

2. Evidence of Stress in Hair Predicts AMI. http://www.medscape.com/viewarticle/728238

3. Gerin W, Chaplin W, Schwartz JE, Holland J, Alter R, Wheeler R, Duong D, Pickering TG. 2005. Sustained blood pressure increase after an acute stressor: The effects of the 11 September 2001 attack on the New York City World Trade Center. J Hypertens 23(2):279-284.

4. Kornitzer M, deSmet P, Sans S, Dramaix M, Boulenguez C, DeBacker G, Ferrario M, Houtman I, Isacsson SO, Ostergren PO, Peres I, Pelfrene E, Romon M, Rosengren A, Cesana G, Wilhelmsen L. 2006. Job stress and major coronary events: Results from the job stress, absenteeism and coronary heart disease in Europe study. Eur J Cardiovasc Prev Rehabil 13: 695-704.

5. Leor J, Poole WK, Kloner RA. 1996. Sudden cardiac death triggered by an earthquake. N Engl J Med 334:413-419.

6. Mittleman MA,Maclure M, Tofler GH, Sherwood JB, Goldberg RJ, Muller JE. 1993. Triggering of acute myocardial infarction by heavy physical exertion. Protection against triggering by regular exertion. Determinants of myocardial infarction onset study investigators. N Engl J Med 329:1677-1683.

7. Pragst F, Balikova MA. 2006. State of the art in hair analysis for detection of drug and alcohol abuse. Clin Chim Acta 370: 17-49.

8.Pereg D, Gow R, Mosseri M, et al. Hair cortisol and the risk for acute myocardial infarction in men. Stress 2010; DOI:10.3109/10253890/2010.511352.

http://informahealthcare.com/journal/sts.

9. Rosengren A, Hawken S, Ounpuu S, Sliwa K, Zubaid M, Almahmeed WA, Blackett KN, Sitthi-amorn C, Sato H, Yusuf S. 2004. Association of psychosocial risk factors with risk of acute myocardial infarction in 11119 cases and 13648 controls from 52 countries (the INTERHEART study): Casecontrol study. Lancet 364:953-962.

10. Van Uum SH, Sauve´ B, Fraser LA, Morley-Forster P, Paul TL, Koren G. 2008. Elevated content of cortisol in hair of patients with severe chronic pain: A novel biomarker for stress. Stress 11: 483-488.

(SGGP). – Tin từ Học viện Quân y cho biết, đơn vị này vừa triển khai thành công mô hình nghiên cứu ghép khối ung thư người trên dòng chuột đột biến gen, thiếu hụt miễn dịch.
TS - bác sĩ Nguyễn Lĩnh Toàn, Chủ nhiệm bộ môn Sinh lý bệnh (Học viện Quân y) cho biết, đây là mô hình đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trên thế giới, nhưng ở Việt Nam lần đầu tiên thực hiện. Mô hình này cho phép các nhà khoa học khám phá khối ung thư từ nguồn gốc ban đầu, quá trình phát triển với những tương tác sinh học giữa cơ thể và khối u, mang lại hiệu quả lớn trong trị liệu ung thư.

Bước đầu, nhóm nghiên cứu của Học viện Quân y đã ghép thành công 2 dòng ung thư người (ung thư tuyến tiền liệt và ung thư thanh quản) trên 40 con chuột thiếu hụt miễn dịch này. Sau ghép khối u phát triển có đường kính trung bình 0,74cm sau 3 tuần và 1,2cm sau 4 tuần ghép với 106 tế bào/chuột.

T.BÌNH

Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) vừa có thông báo đình chỉ lưu hành thuốc viên nén Calci gluconate do không đạt tiêu chuẩn về chỉ tiêu hàm lượng chất (cholecalciferol).


Đồng thời, cục này yêu cầu Công ty Dược phẩm Trung ương 2 phối hợp với nhà phân phối khẩn trương thu hồi thuốc này

Lô thuốc bị đình chỉ lưu hành có ký hiệu BT 109025, hạn dùng 13/10/2012, số đăng ký VN-0780-06, do Công ty Brawn Laboratories Limited Ấn Độ sản xuất. Thuốc do Công ty dược phẩm Trung ương 2 nhập khẩu.

Thuốc Calci gluconate thường được chỉ định phòng và điều trị loãng xương ở phụ nữ, người có nguy cơ cao. Thuốc này cung cấp calci và vitamin D3 cho sự tăng trưởng hệ xương răng của trẻ em, thanh thiếu niên, tuổi dậy thì và các trường hợp cần tăng nhu cầu calci như phụ nữ có thai, phụ nữ đang cho con bú.

(Theo TNO, NLĐ)
Các nhà khoa học đang tin rằng họ có thể giúp con người quên đi những sự kiện đau buồn trong quá khứ bằng một viên thuốc có khả năng xóa bỏ phần ký ức gây đau khổ trong não bộ.

Khám phá này sẽ có ích cho những người lính vốn phải trải qua nhiều sự kiện gây đau đớn và các nạn nhân của những vụ bạo lực kinh hoàng, thậm chí còn có thể giúp chúng ta vượt qua được nỗi đau từ một cuộc tan vỡ xé lòng. Nghiên cứu mới có thể giúp con người quên đi những sự kiện đau buồn trong quá khứ bằng một viên thuốc có khả năng xóa bỏ phần ký ức gây đau khổ trong não bộ Viễn cảnh nói trên tương tự như kịch bản của bộ phim khoa học viễn tưởng "Eternal Sunshine Of The Spotless Mind" ("Tia nắng vĩnh cửu của tâm hồn tinh khiết") - bộ phim ra mắt năm 2004, với đôi diễn viên chính, Kate Winslet và Jim Carrey, trong vai một đôi tình nhân có quá khứ đã bị xóa sạch.


Các nhà khoa học tại Đại học Johns Hopkins (Mỹ) đã dùng chuột để tập trung nghiên cứu phần não bộ đối phó với nỗi sợ hãi.

Họ đã khám phá một "cửa sổ thương tổn" khi các protein của cơ quan cảm thụ riêng biệt được tạo ra trong não bộ dưới dạng những ký ức đau khổ được xác lập.

Họ đã cho những con chuột khỏe mạnh bị điện giật và vì thế chúng trở nên sợ hãi một âm thanh. Âm thanh này sau đó kích thích sản sinh ra các protein được hình thành trong 1 hoặc 2 ngày ở trung khu sợ hãi (amygdala) trong não bộ của chuột.

Do các proteins vốn không ổn định, nên chúng có thể bị loại bỏ bằng những viên thuốc và nhờ thế sẽ xóa được ký ức đau khổ này mãi mãi.

"Khi một sự kiện gây đau khổ xảy ra, nó tạo ra một ký ức đáng sợ có thể tồn tại suốt đời và có tác dụng làm suy giảm đời sống của một người", giáo sư Richard Huganir thuộc nhóm nghiên cứu nói.

Ý tưởng xóa sạch ký ức đau buồn đã được thể hiện trong bộ phim khoa học viễn tưởng "Eternal Sunshine Of The Spotless Mind" ("Tia nắng vĩnh cửu của tâm hồn tinh khiết"), ra mắt năm 2004

Ông cũng cho rằng các khám phá của mình "đưa ra khả năng cho phép điều khiển các cơ chế đó bằng thuốc để nâng cao liệu pháp điều trị hành vi đối với các căn bệnh như rối loạn căng thẳng do đau khổ."

Mặc dù nhóm nghiên cứu đã thí nghiệm trên chuột, nhưng họ tin rằng những kết quả này cũng sẽ giống như thế đối với người.

Tuy nhiên, Kate Farinholt, thuộc nhóm ủng hộ sức khỏe tâm thần ở Maryland, đã cảnh báo rằng vẫn còn đó nhiều câu hỏi chưa được trả lời. "Xóa một ký ức và mọi điều tồi tệ tạo ra từ đó là một ý tưởng đáng kinh ngạc", bà nói.

"Nhưng xóa hoàn toàn một ký ức là hơi đáng sợ. Làm sao bạn có thể loại bỏ một ký ức mà không loại bỏ toàn bộ một phần đời của một người, và liệu có phải đó là điều tốt nhất để làm không, khi xét đến việc con người trưởng thành và học hỏi từ chính kinh nghiệm của mình ?"

Paul Root Wolpe, thuộc Trung tâm Đạo đức tại Đại học Emory ở Atlanta, phát biểu: "Danh tính con người gắn liền với ký ức. Nó tạo ra tính cách riêng biệt của chúng ta. Đó là một ý tưởng gây rắc rối để bắt đầu có thể điều khiển vấn đề đó, ngay cả nếu vì những động cơ tốt đẹp nhất."

Thanh Hồng (Daily Mail) (Theo Bee)
TS. Hoàng Quốc Toàn, Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật lồng ngực - tim mạch, BVTWQĐ 108 cho biết, BV vừa ứng dụng thành công phối hợp 3 phẫu thuật trên một bệnh nhân bị bệnh lý tim mạch phức tạp. Bệnh nhân là Đặng Thị Nụ, 53 tuổi (ở Hồng Giang, Đông Hưng, Thái Bình) được chuyển từ BV Bạch Mai đến trong tình trạng hẹp hở van hai lá do thấp, hẹp 75% động mạch liên thất trước, kèm theo rung nhĩ loạn nhịp tim nặng, suy tim độ 3, tim to... nếu không được thực hiện triệt để, có thể gây nên các biến chứng gan to, tim to, phù tạng, phù chi, thậm chí tử vong bất cứ lúc nào. Bệnh nhân đã được phẫu thuật thay van hai lá, làm cầu nối động mạch vành và phẫu thuật maze điều trị rung nhĩ. Ca phẫu thuật kéo dài 5 giờ đồng hồ. Thành công này mở ra một hướng điều trị mới cho các bệnh nhân cùng lúc bị các bệnh lý về tim phức tạp. TH

Các bác sĩ khoa ngoại Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP.HCM phối hợp với bác sĩ chuyên khoa ngoại thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy vừa mổ thành công trường hợp thoát vị não màng não to và hiếm gặp ở vùng trán mũi trên trẻ nhỏ 3 tháng.

Bé N.V.T., ở Đồng Tháp, có một khối u to trên mặt, ở vùng trán và gốc mũi, chèn ép làm lúc nào mắt trái của bé cũng phải nhắm lại.

Bé được chụp MRI (cộng hưởng từ) và xác định đó là khối thoát vị to từ não màng não vùng thùy trán đi xuống.

Bác sĩ cho biết ca mổ khó khăn vì khối thoát vị quá lớn và từ vùng não thùy trán đi xuống qua một khe nhỏ ở sàn sọ trước (vùng gốc mũi) nên phải mở phân nửa hộp sọ của bé, sau đó mới hút từ từ toàn bộ phần nhu mô não thoát vị ra.

Tiếp đó, kíp mổ phải khâu lại cổ túi thoát vị và tạo hình phần khuyết xương sàn sọ trước bằng một mảnh xương tự thân của bé.

Ca mổ kéo dài hơn 3 giờ,  hiện bé hồi phục tốt, bú khá. Bác sĩ cho biết thêm dị tật bẩm sinh này rất hiếm, tần suất khoảng 1/6.000 trẻ sơ sinh, thường gặp ở các quốc gia vùng Đông Nam Á.

(Theo TTO)
Sau mổ tim cần có một quá trình tập luyện lâu dài giúp cơ thể tăng dần sức chịu đựng và giúp tim làm quen dần với cường độ hoạt động. Tốt nhất 4 - 6 tuần sau phẫu thuật, cơ thể hồi phục bắt đầu tập luyện với cường độ và tần suất phù hợp.

Thể dục nhịp điệu là hình thức được khuyến cáo làm tăng cường sức mạnh cho tim và hệ thống mạch máu. Các nghiên cứu cho thấy, tập thể dục nhịp điệu 3 - 4 lần/tuần, ít nhất 30 phút sẽ giúp cho tim mạch hoạt động tốt hơn. Bước đầu nên tập ở mức độ thấp, nhẹ nhàng như khi nằm viện để tăng dần sức chịu đựng một cách an toàn. Sau 4 - 6 tuần, có thể tăng dần thời gian tập luyện và giảm số lần tập.

Ảnh minh họa

Cần kiểm tra nhịp tim trước và trong khi tập, không được để nhịp tim tăng quá 20 nhịp/phút so với lúc nghỉ ngơi. Đặc biệt, cần chú ý kết hợp hai quá trình "làm ấm" - nghĩa là bước khởi đầu chuẩn bị tập thực sự - và "làm lạnh" - nghĩa là tập chậm lại để cơ thể giảm hoạt động trước khi ngưng tập. Quá trình "làm ấm" và "làm lạnh" tối thiểu là 5 phút và đặc biệt cần đo nhịp tim trước khi "làm ấm", trong khi tập và sau khi "làm lạnh".

Nếu nhịp tim tăng lên thì tập chậm lại. Ngược lại, nếu nhịp tim không tăng (vẫn cảm thấy nhẹ nhàng) thì tập một lúc nữa rồi "làm lạnh". Sau khi "làm lạnh", nhịp tim trở về gần với mức trước khi "làm ấm". Trường hợp nhịp tim không giảm, phải kéo dài thời gian "làm  lạnh" để chờ nhịp tim giảm.

TS Nguyễn Trường