slogan

 
 

TIN TỨC

THAY ĐỔI MỤC ĐÍCH KIỂM SOÁT HUYẾT ÁPTRONG BỆNH THẬN MẠN

   

Tăng huyết áp là bệnh phổ biến ở những bệnh nhân bị bệnh thận mạn tinh, là một yếu tố nguy cơ đã được thiết lập củabệnh tim mạch và sự tiến triển của bệnh thận mạn tính. Mặc dù tănghuyết áp là vấn đề quan trọng, vẫn còn chưa chắc chắn về đích huyết áp mục tiêu ở bệnh nhânbệnh thận mạn.

Hai nghiên cứu lớn về lâm sàng đã chỉ ra huyết áp mục tiêuở bệnh nhân bị bệnh thận mạn mà không bị đái tháo đường: Nghiên cứu về Dinh dưỡng trongbệnh thận và Nghiên cứu bệnh thận và Tănghuyết áp ở người Mỹgốc Phi. Cả hai nghiên cứu đều cho thấy không có lợi ích nào trong việc điều trị huyết áptích cực trên kết cục bệnh thận của bệnh nhân. Tuy nhiên, các phân tích post-hoccủa cả hai nghiên cứu đều cho thấy lợi ích của điều trị huyết áptích cực ở những nhóm bệnh nhân với tiểu đạm đáng kể. Chưa có thử nghiệm lâm sàng lớn nào trước đây đã đánh giá kết cục tim mạch trong việc giảm huyết áp ở bệnh nhân bệnh thận mạn.

Gần đây, Tạp chí của Hội thận học Hoa Kỳ đã xuất bản một bài báo từ thử nghiệm nền tảng can thiệp huyết áp tâm thu (Systolic Blood Pressure Intervention Trial: SPRINT). SPRINT được thiết kế để so sánh hiệu quả của việc giảm huyết áp tích cực(mức huyết áp tâm thu đích là 120 mm Hg) so với kiểm soát huyết áp chuẩn (mức huyết áp tâm thu đích là140 mm Hg) trên kết cục tim mạch và thận ở bệnh nhân không bị đái tháo đường.

Các phát hiện từ thử nghiệm chính cho thấy rằng giảm huyết áp tâm thu tích cực dẫn đến tỷ lệ thấp hơn của kết cục tim mạch tổng hợp và tử vong do mọi nguyên nhân. Trong tổng số 9.361người tham gia nghiên cứu đoàn hệ SPRINT, có 2.646 người (28,3%) bị bệnh thận mạn ở thời điểm bắt đầu (mức lọc cầu thận trung bình ước tính là48 ml/ phút/ 1,73 m2da; tỷ số albumine/creatinine niệu trung bìnhlà13 mg/g). Do đó, đây là thử nghiệm ngẫu nhiên lớn nhất cho đến nay nhằm đánh giá hiệu quả của các mục tiêu huyết áp khác nhau đối với kết cục của bệnh tim mạch và bệnh thận ở bệnh nhân có bệnh thận mạn.

Các ấn bản gần đây trong tạp chí của Hội thận học Hoa Kỳ tập trung đặc biệt vào nhóm bệnh nhân có bệnh thận mạn, so sánh hiệu quả của việc giảm huyết áp tâm thu tích cực với giảm huyết áp tâm thu chuẩn trên kết cục tim mạch (được định nghĩa như là sự kết hợp của nhồi máu cơ tim, hội chứng vành cấp, đột qụy, suy tim mất bù cấp và tử vong do nguyên nhân tim mạch), tử vong do mọi nguyên nhân và sự tiến triển của bệnh thận mạn (được định nghĩa là sự giảm mức lọc cầu thận ≥ 50% so với cơ bản hoặc sự tiến triển đến bệnh thận giai đoạn cuối). Tuổi trung bình của những người tham gia bị bệnh thận mạn là 72tuổi;trong đó, 40% là phụ nữ và 67% là người da trắng. Những người tham gia đã dùng trung bình hai thuốc hạ ápở giai đoạn đầu của thử nghiệm và có huyết ápcơ bản trung bình là 139/75 mm Hg.

Thời gian theo dõi trung bình là 3,3 năm (thử nghiệm đã được chấm dứt sớm do hiệu quả đã được chứng minh). Trong nghiên cứu tiếp theo, huyết áp tâm thu trung bình là 123 mm Hg ở nhóm điều trị tích cựcvà 135 mm Hg ở nhóm điều trị chuẩn, với chênh lệch huyết áp tâm thu trung bình là 12,3 mm Hg. Khi kết thúc nghiên cứu, tính bình quânnhững người tham giatrongnhóm điều trị tích cựcđã dùng ba thuốc hạ huyết áp, so với hai thuốc hạ áp trong nhóm chuẩn.

Kiểm soát huyết áp tích cực có cần thiếttrong bệnh thận mạn?

Trong số những người tham gia có bệnh thận mạn lúc ban đầu, tỷ lệ các kết cục tim mạch chính là 2,68%/năm ở các nhóm điều trị tích cực so với 3,19%/năm ở nhóm điều trị chuẩn (HR=0,81;95% khoảng tin cậy là0,63-1,05). Ảnh hưởng của việc giảmhuyết áp tâm thu tích cực trên kết cục bệnh tim mạchkhông khác biệt đáng kể giữa các nhóm điều trị. Tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân trongcác nhóm điều trị tích cựcvà nhóm điều trị chuẩn tương ứng là 1,61% mỗi năm và 2,21%/ mỗi năm(HR=0,72;khoảng tin cậy 95% là0,53-0,99). Ảnh hưởng của việc giảmhuyết áp tâm thu tích cựctrênnguy cơ bệnh tim mạch và tử vong thậm chí còn tốthơn ở những người≥ 75tuổi.

            Sự tiến triển của bệnh thận mạnxảy ra ở 1,1% người tham gia trong nhóm điều trị tích cựcvà 1,2% trongnhóm điều trị chuẩn, không có khác biệt đáng kể về mặt thống kê (HR=0,90;khoảng tin cậy 95% là 0,44-1,83). Đáng lưu ýlà, thử nghiệm đã loại trừ những người tham gia với protein niệu đáng kể (> 1 g/ngày).

Cuối cùng, thử nghiệm SPRINT cũng kiểm tra tỷ lệ các kết cục bất lợi liên quan đếntình trạng tụthuyết áp. Những người tham gia vào nhóm điều trị tích cựccó nguy cơ cao bị hạ kalimáu, bị tăng kali máu và bị suy thận cấpnhiều hơn.

Kết quả trong nhóm bệnh thận mạn tương đối giống với nhóm nghiên cứu SPRINT, có lẽ làphản ánh mức độ bệnh thận mạnmức độ nhẹ ở những người tham gia. Dữ liệu từ nghiên cứuSPRINT cho thấy lợi ích tim mạch của việc giảmhuyết áp tích cực có thể lớn hơn những rủi ro ở bệnh nhân bệnhthậnmạn mức độnhẹ đến trung bình.

Mục tiêu của HA tâm thu là <120mmHg ở bệnh nhân bệnh thận mạn, đặc biệt là bệnh nhân lớntuổi bị bệnh thận mạn tính, chắc chắn là sai lệch so với hướng dẫn lầnthứ tám vào năm 2014của Ủyban Liên Quốc gia về chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa tăng huyết áp, trong đó khuyến cáo cho mục tiêu huyết áp linh hoạt hơn.Điều phải quan tâm là các hướng dẫn và thực tiễn lâm sàng có cần thay đổi để phản ánh những dữ liệu mới này hay không. Cần lưu ý làphải xây dựng chiến lược để đạt được các mục tiêu kiểm soát huyết áp tích cực dựa trênthử nghiệm SPRINT trong cộng đồng dân sốmắc bệnh thận mạn, mà trong cộng đồng dân số này, việc kiểm soát huyết áp rất khó khăn và thực sựthách thức.

(Dịch từ Blood Pressure in Chronic Kidney Disease: A Moving Target. http://www.medscape.com/viewarticle/882565)

 

1. Cập nhật nghiên cứu XALIA-LEA

Mục tiêu nghiên cứu:

-       Cung cấp các thông tin về độ an toàn và hiệu quả của rivaroxaban so với điều trị chuẩn trên thực tế lâm sàng trong điều trị VTE ở dân số châu Á Thái Bình Dương, Mỹ Latin, châu Phi, Trung Đông và Đông Âu.

Phương pháp nghiên cứu:

-       XALIA-LEA là nghiên cứu phase IV quan sát, tiến cứu, được thiết kế nhằm so sánh độ an toàn và hiệu quả của rivaroxaban và điều trị chuẩn (heparin/fondaparinux đơn trị liệu hoặc gối đầu với VKA) trên thực tế lâm sàng trong điều trị VTE.

-       Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân DVT/PE cấp, trên 18 tuổi, thời gian điều trị kháng đông trên 3 tháng.

-       Tiêu chí đánh giá kết quả: xuất huyết nặng, tái phát VTE, tử vong do mọi nguyên nhân.

Kết quả nghiên cứu:

-       Từ 22/07/2014 – 03/10/2015, tổng cộng 1987 bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu, trong đó khu vực châu Á – Thái Bình Dương đóng góp 887 bệnh nhân (720 bệnh nhân sử dụng rivaroxaban, 167 bệnh nhân sử dụng điều trị chuẩn).

-       Sau khi đã hiệu chỉnh một số biến số quan trọng, rivaroxaban làm giảm có ý nghĩa thống kê các tiêu chí đánh giá chính, cụ thể:

·         Xuất huyết nặng: tỷ lệ xuất huyết nặng ở nhóm sử dụng rivaroxaban là 2,9%/năm so với 8,2%/năm ở nhóm điều trị chuẩn (HR=0,36; 95% CI 0,18-0,71, p=0,003).

·         Tỷ lệ tái phát VTE 2,6%/năm so với 8,8%/năm ở nhóm điều trị chuẩn (HR=0,32; 95% CI 0,16-0,64; p=0,001).

·         Tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân 4,5%/năm so với 15,8%/năm ở nhóm điều trị chuẩn (HR=0,37; 95% CI 0,21-0,63; p<0,001).

Kết luận:

-       Kết quả nghiên cứu trên 3 tiêu chí đánh giá chính chứng minh rivaroxaban an toàn và hiệu quả trên nhiều đối tượng bệnh nhân khác nhau. XALIA-LEA một lần nữa khẳng định lại kết quả chương trình nghiên cứu phase III ENSTEIN và nghiên cứu XALIA

 

2. Hội chứng hậu huyết khối trên bệnh nhân sử dụng rivaroxaban hoặc warfarin trong điều trị VTE

Đặt vấn đề:

-       Hội chứng hậu huyết khối là biến chứng phổ biến của DVT, triệu chứng của nó bao gồm: đau, sưng và nặng chân, mệt mỏi, ngứa và hình thành các vết loét.

-       Khi sử dụng VKA, INR nằm ngoài ngưỡng điều trị vẫn thường xảy ra, và điều này có thể liên quan đến sự hình thành hội chứng hậu huyết khối.

-       Rivaroxaban có đặc tính dược động học dễ tiên đoán hơn và dễ dàng kiểm soát điều trị hơn so với VKA, điều này gợi ý rivaroxaban có thể làm giảm nguy cơ xuất hiện hội chứng hậu huyết khối.

 

Phương pháp nghiên cứu:

-       Phân tích hồi cứu, sử dụng dữ liệu từ hệ thống US Truven Market Scan từ tháng 1/2012 đến tháng 6/2015.

-       Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân trên 18 tuổi, được chẩn đoán DVT hoặc PE (đánh giá bằng code chẩn đoán trên hồ sơ), mới sử dụng rivaroxaban hoặc warfarin.

-       Tiêu chí đánh giá nghiên cứu: sự xuất hiện của hội chứng hậu huyết khối (được định nghĩa theo tiêu chuẩn của MacDougall và cộng sự)

Kết quả:

-       Sau khi tiến hành lọc hồ sơ theo các tiêu chuẩn chọn bệnh, tiêu chuẩn loại trừ, bắt cặp đặc điểm dân số ban đầu có tổng cộng 10.463 bệnh nhân sử dụng rivaroxaban, 26.494 bệnh nhân sử dụng warfarin được chọn vào phân tích.

-       Nhóm bệnh nhân sử dụng rivaroxaban giảm 23% nguy cơ xuất hiện hội chứng hậu huyết khối so với nhóm bệnh nhân sử dụng warfarin (3,69%/năm so với 4,73%/năm; HR=0,77; 95% CI 0,70-0,84).

-       Khi tiến hành các phân tích dưới nhóm theo độ tuổi (nhóm trên 60 và dưới 60 tuổi), biến cố VTE ban đầu (PE và DVT), giới tính kết quả vẫn đồng nhất như trên dân số chung. Như vậy hiệu quả giảm nguy cơ hội chứng hậu huyết khối của rivaroxaban không phụ thuộc tuổi, giới tính cũng như biến cố VTE ban đầu.

Kết luận:

-       Trong thực tế lâm sàng điều trị VTE ở bệnh nhân Mỹ, rivaroxaban làm giảm nguy cơ xuất hiện hội chứng hậu huyết khối so với warfarin

-       Kết quả của phân tích đồng nhất với kết quả của phân tích post-hoc của nghiên cứu EINSTEIN DVT

1.  GIẢM NGUY CƠ ĐỘT TỬ TRONG SUY TIM

Bối cảnh

Nguy cơ đột tửở bệnh nhân suy tim phân suất tống máu (Ejection Fraction-EF) giảm có triệu chứng đã thay đổi theo thời gian do việc điều trịbằng các thuốc ức chế men chuyển angiotensin, chẹn thụ thể angiotensin, chẹn β và chất đối kháng thụ thể mineralocorticoid. Nghiên cứu này nhằm cố gắng xem xét chi tiết về xu hướng thay đổi này.

Phương pháp

Nghiên cứu đã phân tích dữ liệu từ 40.195 bệnh nhân bị suy tim với EF giảm và đã tham gia vào bất kỳ trong 12 thử nghiệm lâm sàng kéo dài từ năm 1995 đến năm 2014. Bệnh nhân có đặt máy ICD vào thời điểm thử nghiệm lâm sàng được loại trừ. Hồi quy đa biến có trọng số được sử dụng để kiểm tra xu hướng tần suất của đột tử theo thời gian. HR hiệu chỉnh cho đột tử trong mỗi nhóm được tính toán bằng cách sử dụng mô hình hồi quy Cox. Tỷ suất mới mắc dồncủa đột tử được đánh giá tại các thời điểm khác nhau sau phân bố ngẫu nhiên và kèm vớiđộ dài về thời gian giữa chẩn đoán suy tim và phân bố ngẫu nhiên.

Kết quả

Đột tử được báo cáo ở 3583 bệnh nhân. Những bệnh nhân này thường lớn tuổi hơn và ở nam nhiều hơn, có nguyên nhân thiếu máu cục bộ và chức năng tim nặng hơn những người mà đột tử không xảy ra. Đột tử giảm 44% trong các thử nghiệm (P = 0,03). Tần suất mới mắc dồn của đột tử tại thời điểm 90 ngày sau phân bố ngẫu nhiên là 2,4% trong những thử nghiệm sớm nhất và 1,0% trong thử nghiệm gần đây nhất. Tần suất đột tử cũng không cao hơn ở những bệnh nhân có chẩn đoán suy tim gần đây so với những người đã có chẩn đoán lâu trước đó.

Kết luận

Tần suất đột tử giảm đáng kể theo thời gian ở những bệnh nhân suy tim với phân suất tống máu giảm ngoại trú trên những người đã tham gia vào các thử nghiệm lâm sàng, phát hiện này phù hợp với lợi ích cộng dồn của các thuốc có bằng chứng cải thiện nguyên nhân tử vong này.

 

Nguồn:N Engl J Med 2017;377:41-51

 

2. ĐIỀU TRỊ CHUYÊN KHOA VÀ KẾT CỤC TRONG RUNG NHĨ MỚI ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN-Từ nghiên cứu TREAT-AF

Bối cảnh

Rung nhĩ (Atrial fibrillation-AF) xảy ra trong nhiều bối cảnh lâm sàng, được chẩn đoán và điều trị bởi các bác sĩ lâm sàng ở nhiều chuyên khoa. Cách tiếp cận này đã dẫn đến các điều trị khác nhau.

Mục tiêu

Mục tiêu của nghiên cứu này là để đánh giá mối liên hệ giữa điều trị chuyên khoa và kết quả AF ở những bệnh nhân AF mới được chẩn đoán.

Phương pháp

Sử dụng dữ liệu từ nghiên cứu TREAT-AF (Retrospective Evaluation and Assessment of Therapies in AF) của Cục Quản lý Sức khoẻ Cựu chiến binh, những bệnh nhân AF không do bệnh van tim mới được chẩn đoán, từ 2004 đến 2012 được xác định có ít nhất 1 lần gặp ngoại trú với bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu hoặc bác sĩ tim mạch trong vòng 90 ngày kể từ khi chẩn đoán AF. Mô hình hồi qui Cox được sử dụng để đánh giá mối liên hệ giữa điều trị chuyên khoa và kết cục AF.

Kết quả

Trong số 184,161 bệnh nhân mới được chẩn đoán AF (tuổi trung bình 70±11 tuổi, 1.7% là phụ nữ, điểm CHA2DS2-VASc trung bình 2.6 ± 1.7), 40% được chăm sóc tim mạch và 60% chỉ được săn sóc tại chăm sóc sức khỏe ban đầu. Sau khi điều chỉnh các đồng biến số, chăm sóc tim mạch cho thấy có đi kèm với giảm đột quỵ (HR 0.91; 95% CI 0.86-0.96, p <0.001) và tử vong (HR: 0.89; 95% CI: 0.88-0.91, p <0.0001), tăng tỷ lệ nhập viện vì AF/nhịp nhanh trên thất (HR: 1.38, 95% CI: 1.35-1.42, p <0.0001) <0,04)và nhồi máu cơ tim (HR: 1.03, KTC 95%: 1.0-1.05, p<0.04). Nhóm đoàn hệ có bắt cặp điểmcũng cho kết quả tương tự. Trong phân tích trung gian, kê toa thuốc chống đông trong vòng 90 ngày sau chẩn đoán có thể làm giảm đột quỵ nhưng không làm giảm sống còn.

Kết luận

Những bệnh nhân AF mới chẩn đoán, chăm sóc tim mạch đi kèm với cải thiệnkết cục, khả năng tiềm tàng là qua trung gian kê toa thuốc kháng đông sớm. Mặc dù nghiên cứu tạo ra giả thuyết, những dữ liệu này phải được xem xét nghiêm túc và nghiên cứu về các can thiệp của hệ thống chăm sóc sức khoẻ tại thời điểm AF mớichẩn đoán.

 

J Am Coll Cardiol 2017;70:78–86

 

RIVAROXABAN TỐT HƠN WARFARIN TRONG PHÒNG NGỪA TÁI PHÁT THUYÊN TẮC TĨNH MẠCH DO HUYẾT KHỐI

           

Theo một nghiên cứu trên toàn quốc ở Đan Mạch: Ở bệnh nhân bị thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khốivô căn, rivaroxaban tốt hơn warfarin trong việc làm giảm nguy cơ thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối tái phát mà không có các tác dụng phụ xấuhơn.

Rivaroxaban đã có mặt trên thị trường trong khoảng sáu năm và hai nghiên cứu saukhi thuốc có mặt trên thị trường trước đây cho thấy rivaroxaban có hiệu quả hơn warfarin trongdự phòng thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối tái phát mà không làm tăng nguy cơ xuất huyết.

Tiến sĩ Torben B.Larsen từ Bệnh viện Đại học Aalborg và cộng sự đã sử dụng dữ liệu từ các cơ quan đăng ký sổ bộ trên toàn quốc Đan Mạch để so sánh hiệu quả và tínhan toàn của rivaroxaban so với warfarin ở 5.004 bệnh nhân bịthuyên tắc tĩnh mạch do huyết khốivô căn lần đầu và chưa từng điều trị thuốc khángđông đường uống.

Trong nghiên cứu này, bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu là những bệnh nhân lần đầu được chẩn đoán thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khốivô căn tại bệnh viện và mới bắt đầu sử dụng rivaroxaban hoặc warfarin. Những bệnh nhân bị loại khỏi nghiên cứu bao gồm:

* Bệnh nhân cư trú tại Đan Mạch dưới 1 năm trước khi chẩn đoánthuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối.

* Bệnh nhân chỉ được chẩn đoán thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khốingoại trú, đã từng dùng kháng đông trước đó, không được kê rivaroxaban hoặc warfarin trong vòng 7 ngày kể từ khi chẩn đoán.

* Bệnh nhân sử dụng đồng thời rivaroxaban và warfarin hoặc sử dụng các loại kháng đông khác.

Nhóm tác giả sử dụng phương pháp “propensity matching” để cân bằng đặc tính dân số nghiên cứu ban đầu và sử dụng phương pháp hồi quy Cox để đánh giá kết cục nghiên cứu trên 2 nhóm bệnh nhân.

Theo báo cáo trực tuyến trên Lancet Hematology ngày 11 tháng 4: Trong thời gian từ 9/12/2011 đến 28/2/2016, nhóm tác giả đã lựa chọn được 29.936 bệnh nhân mới bị thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối. Sau khi loại trừ những bệnh nhân không đủ tiêu chuẩn chọn vào, 1.734 bệnh nhân sử dụng rivaroxaban được bắt cặp “propensity-matching” với 2.945 bệnh nhân sử dụng warfarin.Kết quả cho thấy:

* Rivaroxaban liên quan đến giảm 25% tỷ lệ thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối tái phát sau ba tháng điều trị và giảm 26% sau sáu tháng điều trị so với warfarin.

* Sau 6 tháng, tỷ lệ xuất huyết nặng trên 100 người-năm thì tương tựcho cả rivaroxaban (2,4 trường hợp) và warfarin (2,0 trường hợp).

* Tỷ lệ tử vong sau6 tháng cũng tương tự cho cả rivaroxaban vàwarfarin (5,7 so với 5,5 trường hợp tử vong trên 100 người-năm).

* Thời gian nằm viện trung bình kéo dài hơn 1 ngày ở nhómwarfarin so với rivaroxaban, và thời gian nằm viện kéo dài(ít nhất 10 ngày) thì cao hơn nhiều ở nhómbệnh nhân dùng warfarin (7,8%) so với rivaroxaban (2,1%).

Hình 1: tỷ lệ tái phát thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khối trong các nghiên cứu

Tóm lại, kết quả từ nghiên cứu sổ bộ quốc gia Đan Mạch cho thấy, rivaroxaban hiệu quả hơn warfarin trong dự phòng tái phát thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khốiở bệnh nhân thuyên tắc tĩnh mạch do huyết khốivô căn, đồng thời không làm tăng thêm nguy cơ xuất huyết nặng. Kết quả này đồng nhất với kết quả từ chương trình nghiên cứu phase III EINSTEIN và nghiên cứu quan sát tiền cứu XALIA: rivaroxaban cho hiệu quả ít nhất tương đương so với điều trị chuẩn.

 

Với kết quả trên, nhóm tác giả kết luận “liệu pháp một thuốc rivaroxaban cung cấp một giải pháp an toàn thay thế cho warfarin với nhiều ưu điểm như ít tương tác thuốc, dược động học dễ tiên đoán, không cần theo dõi chức năng đông máu và không cần phải chỉnh liều thường xuyên.

 

(Dịch từ Rivaroxaban Better Than Warfarin for Preventing Recurrent VTE. http://www.medscape.com/viewarticle/879741)

1. Ức chế β  và tử vong ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim không có biểu hiện suy tim hay rối loạn chức năng thất

 

Bối cảnh

Nhồi máu cơ tim cấp (acute myocardial infarction-AMI) mà không có suy tim (heart failure-HF), thuốc ức chế β có liên quan đến giảm tử vong hay không vẫn còn chưa rõ.

Đọc tiếp...

1. EVOLOCUMAB VÀ KẾT CỤC LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN BỆNH TIM MẠCH

 

Bối cảnh

Evolocumab là một kháng thể đơn dòng ức chế PCSK9 (proprotein convertase subtilisin-kexin type 9) và làm giảm LDL-c  khoảng 60%, tuy nhiên nó có ngăn ngừa các biến cố tim mạch hay không vẫn còn chưa rõ.

Phương pháp

Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược từ 27,564 bệnh nhân bị bệnh tim mạch do xơ vữa và LDL-c  ≥ 70 mg / dl (1.8 mmol/lít), đang được điều trị bằng statin. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào nhóm nhận evolocumab (140 mg mỗi 2 tuần hoặc 420 mg mỗi tháng) hoặc nhận giả dược dưới dạng tiêm dưới da. Kết cục tiên phát là tiêu chí gộp của tử vong tim mạch, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, nhập viện vì đau thắt ngực không ổn định, hoặc tái thông mạch vành. Kết cục thứ phát chính là tiêu chí gộp của tử vong tim mạch, nhồi máu cơ tim, hoặc đột quỵ Thời gian theo dõi trung vị của nghiên cứu là 2.2 năm.

Kết quả

Tại thời điểm 48 tuần, phần trăm trung bình bình phương tối thiểu giảm LDL-c trong nhóm Evolocumab, so với giả dược, là 59%, từ giá trị cơ bản trung vị 92 mg/dl (2.4 mmol/lít) đến 30 mg/dl (0.78 mmol/lít) (P <0.001). So với giả dược, nhóm điều trị bằng evolocumab làm giảm đáng kể tiêu chí kết cục chính (1344 bệnh nhân [9.8%] so với 1563 bệnh nhân [11.3%], HR 0.85, 95% CI 0.79-0.92, P < 0.001) và tiêu chí kết cục thứ phát chính (816 [5.9%] so với 1013 [7.4%], HR 0.80, 95% CI, 0.73-0.88, P <0.001). Các kết quả này hằng định trên các phân nhóm chính, bao gồm phân nhóm của bệnh nhân có tứ phân vị LDL-c thấp nhất từ giá trị LDL-c nền (trung vị 74 mg/dl (1.9 mmol/lít)). Không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm nghiên cứu liên quan đến tác dụng ngoại ý (bao gồm đái tháo đường mới mắc và các biến cố về nhận thức thần kinh), ngoại trừ các phản ứng tại nơi tiêm chích thường gặp hơn ở nhóm evolocumab (2.1% so với 1.6%).

Kết luận

Thử nghiệm lâm sàng ghi nhận, ức chế PCSK9 bằng evolocumab trên nền điều trị statin làm giảm LDL-c đến mức trung vị 30 mg/dl (0.78 mmol/lít) và làm giảm nguy cơ biến cố tim mạch. Những phát hiện này cho thấy rằng bệnh nhân bị tim mạch do xơ vữa có lợi từ việc hạ thấp mức LDL-c dưới các mục tiêu hiện tại.

 

(Nguồn: N Engl J Med 2017;376:1713-22)

 

2. NỒNG ĐỘ TROPONIN SIÊU NHẠY SAU MỔ LIÊN HỆ VỚI TỔN THƯƠNG CƠ TIM VÀ TỬ VONG 30 NGÀY Ở BỆNH NHÂN TRẢI QUA PHẪU THUẬT NGOÀI TIM

 

Tầm quan trọng

Hiện tại còn ít hiểu biết về mối liên quan giữa đo nồng độ troponin T (hsTnT) quanh phẫu thuật với tử vong 30 ngày và tổn thương cơ tim sau phẫu thuật ngoài tim (MINS).

Mục tiêu

Để xác định mối liên hệ giữa hsTnT quanh phẫu thuật với tử vong trong 30 ngày và các tiêu chuẩn chẩn đoán cho MINS (tức là tổn thương cơ tim do thiếu máu cục bộ liên hệ với tử vong trong 30 ngày).

Thiết kế, cách tiến hành và đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu ở những bệnh nhân ≥  45 tuổi đã trải qua phẫu thuật ngoài tim nội trú và có đo hsTnT sau mổ. Nghiên cứu được bắt đầu từ tháng 10 năm 2008, bệnh nhân được tuyển mộ từ 23 trung tâm ở 13 quốc gia; Quá trình theo dõi được hoàn tất vào tháng 12 năm 2013.

Tiêu chuẩn

Bệnh nhân có đo hsTnT từ 6 đến 12 giờ sau PT và mỗi ngày trong 3 ngày; 40,4% có đo hsTnT trước mổ.

Kết cục chính và đo lường

Tiếp cận Mazumdar cải tiến được sử dụng để xác định xem ngưỡng hsTnT có liên hệ với nguy cơ tử vong, có nguy cơ hiệu chỉnh (HR) ≥ 3.0 và nguy cơ tử vong trong 30 ngày ≥ 3%. Để xác định chẩn đoán cho MINS, phân tích hồi quy được xác định để xem hsTnT tăng sau phẫu thuật thêm một biểu hiện thiếu máu cục bộ (ví dụ, chứng thiếu máu cục bộ hoặc dấu hiệu trên điện tim) có liên hệ với tử vong 30 ngày.

Kết quả

Trong số 21 842 người tham gia, độ tuổi trung bình là 63,1 (SD, 10,7) năm và 49,1% là nữ. Tử vong trong vòng 30 ngày sau phẫu thuật xảy ra ở 266 bệnh nhân (1,2%, 95% CI, 1,1% -1,4%). Phân tích đa biến chỉ ra rằng so với quần thể tham khảo (nồng độ hsTnT cao nhất <5 ng / L), nồng độ hsTnT sau mổ cao nhất nằm trong các khoảng từ 20 đến dưới 65 ng / L, 65 đến dưới 1000 ng / L, và 1000 ng / L hoặc cao hơn có tỷ lệ tử vong 30 ngày là 3,0% (123/4049, 95% CI, 2,6% -3,6%), 9,1% (102/1118, 95% CI, 7,6% -11,0%) và 29,6% (16/54; 95% CI, 19,1% -42,8%), với HR điều chỉnh tương ứng là 23,63 (95% CI, 10,32-54,09), 70,34 (95% CI, 30,60-161,71) và 227,01 (95% CI, 87,35-89,92). Sự thay đổi hsTnT tuyệt đối ≥ 5 ng/L đã làm tăng nguy cơ tử vong trong 30 ngày (HR hiệu chỉnh, 4.69, KTC 95%, 3.52-6.25). Tăng hsTnT sau phẫu thuật (tức là 20 đến <65 ng/L với thay đổi tuyệt đối ≥ 5ng/L or hsTnT ≥ 65 ng/L) không có biểu hiện thiếu máu cục bộ có liên quan đến tử vong trong 30 ngày (HR điều chỉnh, 3,20; 95% CI, 2,37 -4.32). Trong số 3904 bệnh nhân (17,9%, 95% CI, 17,4% -18,4%) với MINS, 3633 (93,1%, 95% CI, 92,2% -93,8%) không có biểu hiện thiếu máu cục bộ.

Kết luận

Trong số những bệnh nhân trải qua phẫu thuật ngoài tim, hsTnT sau mổ cao nhất trong 3 ngày đầu sau phẫu thuật có liên quan đáng kể đến tử vong trong 30 ngày. Tăng hsTnT sau phẫu thuật mà không có biểu hiện thiếu máu cục bộ cũng liên quan đến tử vong trong 30 ngày

 

(Nguồn: J Am Coll Cardiol 2017;69:2304–13)

 

TROPONIN DƯƠNG TÍNH Ở NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ BÁO HIỆU NGUY CƠ TỬ VONG

 

Theo một nghiên cứu mới: Nồng độ Troponin tăng ở người bệnh đột qụydo thiếu máu cục bộ cấp có liên quan độc lập với tăng nguy cơ tử vong dài hạn.

Đọc tiếp...

Tóm tt các tiêu chun sdng thích hp cho tái thông mch vành ở bệnh nhân bị hội chứng vành cấp của Acc/Aats/Aha/Ase/Asnc/Scai/Scct/Sts năm 2016

 

Mỗi chỉ định được cho điểm từ 1 đến 9 như sau:

·Điểm số7 đến 9: Chăm sóc thích hợp (A - Appropriate)

Đọc tiếp...

CẬP NHẬT KHUYẾN CÁO TĂNG HUYẾT ÁP CỦA ACP VÀ AAFP

 

Hội các Thầy thuốc Mỹ và Viện các bác sĩ gia đình Mỹ vừa công bố một hướng dẫn thực hành chung về mục tiêu huyết áp tâm thu cho những người từ 60 tuổi trở lên bị tăng huyết áp.

Đọc tiếp...

STENT PHỦ THUỐC EVEROLIMUS HAY  PHẪU THUẬT BẮC CẦU (CABG) CHO BỆNH THÂN CHUNG MẠCH VÀNH (Thử nghiệm lâm sàng EXCEL)

Bối cảnh

Đọc tiếp...

Dự phòng chảy máu ở bệnh nhân rung nhĩ được can thiệp mạch vành qua da-PCI (Thử nghiệm lâm sàngPIONEER AF-PCI)

Đọc tiếp...

NGHIÊN CỨU ARIC: TROPONINS, NGUY CƠ BIẾN CỐ TIM MẠCH TĂNG KHI HUYẾT ÁP TÂM TRƯƠNG THẤP

 

Nghiên cứu đoàn hệ về nguy cơ xơ vữa động mạch trong cộng đồng (Atherosclerosis Risk in the Communities: ARIC) cho thấy: Giảm huyết áp tâm trương thường đi kèm với giảm huyết áp tâm thu ở những bệnh nhân đang điều trị thuốc hạ áp có thể gây hại ở một số bệnh nhân.

Đọc tiếp...

DỮ LIỆU TỪ THỰC TẾ TIẾP TỤC KHẲNG ĐỊNH LỢI ÍCH CỦA XARELTO Ở BỆNH NHÂN RUNG NHĨ KHÔNG DO BỆNH VAN TIM TRÊN LÂM SÀNG

           

Đọc tiếp...

Andexanet Alfa cho các trường hợp chảy máu nặng cấp tính liên quan với các chất ức chế yếu tố Xa (Nghiên cứu ANNEXA-4)

 

BỐI CẢNH

Andexanet alfa (andexanet) là một protein mồi yếu tố Xa từ người được biến thể tái tổ hợp dùng để đảo ngược tác dụng chống đông của các chất ức chế yếu tố Xa ở những người tình nguyện khỏe mạnh.

Đọc tiếp...