slogan

 
 

topbannerv1

THÔNG TIN KHOA HỌC

Cơ chế bệnh sinh của rối loạn cương dương (RLCD) có liên quan đến rối loạn chức năng nội mô và do đó kết hợp với các yếu tố nguy cơ tim mạch. Vì thế, bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ phối hợp, như trong hội chứng chuyển hóa, có nhiều khả năng bị tăng nguy cơ phát triển loạn năng nội mô và RLCD. Thuốc đối kháng thụ thể angiotensin irbesartan đã được chứng minh là cải thiện chức năng nội mô trên bệnh nhân có nguy cơ cao tim mạch, gợi ý một tác dụng có lợi của điều trị irbesartan trên RLCD. Mục đích của nghiên cứu này là xác định ảnh hưởng của irbesartan trên RLCD ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa.

Cơ chế bệnh sinh của rối loạn cương dương (RLCD) có liên quan đến rối loạn chức năng nội mô và do đó kết hợp với các yếu tố nguy cơ tim mạch. Vì thế, bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ phối hợp, như trong hội chứng chuyển hóa, có nhiều khả năng bị tăng nguy cơ phát triển loạn năng nội mô và RLCD. Thuốc đối kháng thụ thể angiotensin irbesartan đã được chứng minh là cải thiện chức năng nội mô trên bệnh nhân có nguy cơ cao tim mạch, gợi ý một tác dụng có lợi của điều trị irbesartan trên RLCD. Mục đích của nghiên cứu này là xác định ảnh hưởng của irbesartan trên RLCD ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa. Tổng cộng có 1.069 bệnh nhân tăng huyết áp có hội chứng chuyển hóa trong nghiên cứu điều tra DO-IT (Documentation of hypertension and metabolic syndrome in patients with Irbesartan Treatment) được thu nhận. Bệnh nhân được điều trị với irbesartan hoặc phối hợp irbesartan/hydrochlorothiazide trong 6 tháng. RLCD được đánh giá theo chỉ số chức năng cương dương quốc tế. Bộ câu hỏi Cologne đánh giá RLCD được dùng làm công cụ đối chứng. Chức năng cương dương tăng có ý nghĩa (P<0,0001) sau 6 tháng điều trị với irbesartan, bất kể liều lượng và độc lập với điều trị bổ sung bằng hydrochlorothiazide. Tỉ lệ RLCD giảm từ 78,5% lúc đầu xuống 63,7%, kèm với sự gia tăng có ý nghĩa chức năng khoái cảm (P<0,001) và sự hài lòng khi giao hợp (P<0,001). Điều trị với irbesartan đơn thuần, cũng như khi phối hợp với hydrochlorothiazide, kết hợp với một sự cải thiện ham muốn tình dục, tần suất quan hệ tình dục và chức năng cương dương ở bệnh nhân tăng huyết áp có hội chứng chuyển hóa. Những kết quả này gợi ý một vai trò có lợi của thuốc đối kháng thụ thể angiotensin trong điều trị hội chứng chuyển hóa và RLCD.

International Journal of Impotence Research bản công bố trực tuyến 3/7/2008

Từ khóa: irbesartan; thuốc đối kháng thụ thể angiotensin; hội chứng chuyển hóa; rối loạn cương dương

Mở đầu

Rối loạn cương dương (RLCD) được định nghĩa là mất khả năng đạt được hoặc duy trì tình trạng cương dương vật đủ để thực hiện quan hệ tình dục một cách thỏa đáng.1 Sự tổng hợp mitric oxid ở nội mô các động mạch dương vật, thể hang và các dây thần kinh không-adrenergic/ không-cholinergic có vai trò hết sức quan trọng trong cương dương vật. Như vậy, rối loạn chức năng nội mô, bước đầu của xơ cứng mạch máu có sự kết hợp chặt chẽ với suy giảm chức năng cương dương. Mức độ RLCD thường kết hợp mạnh với các yếu tố nguy cơ tim mạch như tăng huyết áp, tăng cholesterol-máu, đái tháo đường, hút thuốc lá và béo phì. Ngoài sự tương quan của xuất độ RLCD và tuổi tác, Nghiên cứu Lão hóa Nam giới Massachusetts, cũng như Điều tra Nam giới Cologne đã chứng minh sự gia tăng RLCD trên bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ hoặc bệnh tim mạch.2,3 Do đó, đặc biệt là bệnh nhân có sự phối hợp nhiều yếu tố nguy cơ như trong hội chứng chuyển hóa, được cho là bị tăng nguy cơ phát triển RLCD.4

Angiotensin II kích thích sản xuất các gốc tự do trong lớp tế bào nội mô, với hệ quả là tăng stress ôxy-hóa và phát triển rối loạn chức năng nội mô.5,6 Hơn nữa, angiotensin II tại chỗ, được tổng hợp trong mô hang, có các tác dụng trực tiếp trên chức năng cương dương, vì khi tiêm angiotensin II trong thể hang làm tự nhiên hết cương dương.7 Như vậy, ức chế hệ thống renin–angiotensin (RAS) có thể cải thiện chức năng cương dương do ức chế các tác dụng chuyên biệt của angiotensin II trên thể hang, giảm huyết áp và cải thiện chức năng nội mô trong thể hang và các động mạch dương vật.8 Một số thuốc ức chế men chuyển (ƯCMC) và thuốc đối kháng thụ thể angiotensin cho thấy làm tăng tần suất sinh hoạt tình dục và cải thiện chức năng cương dương trên bệnh nhân có nguy cơ tim mạch.9–12 Ngoài ra, thuốc đối kháng thụ thể angiotensin irbesartan còn cải thiện chức năng nội mô, huyết áp, các dấu ấn viêm và sự đề kháng insulin ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa và vì thề rất có thể có tác dụng có lợi trên chức năng cương dương.13–15 Mục tiêu của nghiên cứu mở và tiền cứu này (nghiên cứu DO-IT, Documentation of hypertension and metabolic syndrome in patients with Irbesartan Treatment) là đánh giá tỉ lệ RLCD trên bệnh nhân tăng huyết áp có hội chứng chuyển hóa và sự thay đổi của tỉ lệ này trong đáp ứng với điều trị bằng thuốc đối kháng thụ thể angiotensin irbesartan hoặc phối hợp irbesartan/hydrochlorothiazide (HCTZ).

Vật liệu và phương pháp

Quần thể nghiên cứu

Tổng cộng có 1.069 bệnh nhân nam tăng huyết áp và có hội chứng chuyển hóa trong nghiên cứu DO-IT được nhận vào nghiên cứu phụ này. Nghiên cứu được thực hiện tại Đức từ tháng 9/2004 đến tháng 1/2006. Có cả thảy 649 bác sĩ đa khoa thu dung bệnh nhân theo các tiêu chuẩn nhận vào của nghiên cứu DO-IT: huyết áp cao (>130/85 mmHg) hoặc đang điều trị thuốc chống tăng áp và có thêm ít nhất hai trong số các tiêu chí sau đây: vòng bụng >102 cm, nồng độ triglycerid >150 mg/100 ml, HDL-cholesterol <40 mg/100 ml và nồng độ glucose lúc đói >110/100 ml. Bệnh nhân được điều trị với irbesartan (150 hoặc 300 mg) hoặc với phối hợp irbesartan/HCTZ (150/12,5 hoặc 300/12,5 mg), theo thứ tự, trong 6 tháng tùy theo quyết định của bác sĩ điều trị. Tái khám sau 3 và 6 tháng. Kết quả còn được phân tích theo các phân nhóm tùy theo phác đồ điều trị (irbesartan và irbesartan/HCTZ) và các đặc trưng thu nhận bệnh (bệnh nhân có và không điều trị chống tăng áp trước khi vào nghiên cứu). Nghiên cứu được thực hiện theo tinh thần Tuyên bố Helsinki

Đánh giá chức năng cương dương

Chức năng cương dương, cũng như chức năng khoái cảm, ham muốn tình dục, và sự thỏa mãn khi giao hợp được đánh giá bằng chỉ số quốc tế về chức năng cương dương (IIEF).16 Độ nặng của RLCD được xác định bằng điểm số IIEF đối với chức năng cương dương. Điểm số KEED (Cologne Evaluation Questionnaire of Erectile Dysfunction), đã được kiểm định trước đây trong “Điều tra Nam giới Cologne” bao gồm các đặc điểm xã hội-dân số học, bệnh sử, tiền sử phẫu thuật, cũng như các câu hỏi về ham muốn và hoạt động tình dục và sự hài lòng nói chung, được dùng làm công cụ đối chứng.2

Phân tích thống kê

Tất cả số liệu được biểu diễn bằng số trung bình ± độ lệch chuẩn. Mức ý nghĩa thống kê được công nhận khi trị số P <0,05. Trị số trung bình giữa hai đại lượng được so sánh bằng phép kiểm t Student hai phía. Sự liên quan của các biến số được xác định bằng tương quan Pearson. Test Bowker và test McNemar được dùng để phân tích độ đối xứng; sự thay đổi của mức khác biệt giữa các nhóm được phân tích bằng test chính xác Fisher. Phần mềm SAS 9.1 được sử dụng để phân tích thống kê.

Kết quả

Các đặc trưng ban đầu

Tổng cộng có 1.069 bệnh nhân nam tăng huyết áp có hội chứng chuyển hóa (huyết áp trung bình ban đầu 158/94mmHg) với tuổi trung bình là 59,3±9,5 tuổi (19–84 tuổi) được nhận vào nghiên cứu phụ về RLCD. Các đặc trưng ban đầu và điều trị lúc nhận vào được trình bày trong Bảng 1. Có 38,5% số bệnh nhân được thay thuốc điều trị chống tăng áp, 11,1% đã được điều trị với irbesartan hoặc irbesartan/HCTZ trước khi nhận vào, trong khi có khoảng phân nửa số bệnh nhân (50,2%) được dùng thuốc chống tăng áp lần đầu tiên. Huyết áp tâm thu và tâm trương giảm có ý nghĩa sau 6 tháng điều trị (tâm thu -24±15 mmHg, P<0,0001; tâm trương -14± 9 mmHg, P<0,0001). Bệnh nhân được điều trị với irbesartan/ HCTZ có mức giảm huyết áp tâm thu nhiều hơn (-25±14 mmHg) so với bệnh nhân được điều trị irbesartan đơn thuầu (-22±15 mmHg, P<0,001 đối với mức khác biệt giữa hai nhóm), trong khi đó sự thay đổi huyết áp tâm trương không khác nhau có ý nghĩa (P=0,08). Mức giảm huyết áp tâm thu (-26±14 mmHg) cũng như tâm trương (-16±9 mmHg) trên bệnh nhân không điều trị chống tăng áp từ trước vượt xa mức hạ huyết áp đạt được trên bệnh nhân đã điều trị chống tăng áp

Bảng 1. Các đặc trưng ban đầu của bệnh nhân

Tổng số

Irbesartan

(n=388)

Irbesartan/

HCTZ

(n=673)

Trị số P

Điều trị chống tăng áp (n=725)

Không điều trị chống tăng áp (n=344)

Trị số P

Tuổi (năm)

HA tâm thu (mmHg)

HA tâm trương (mmHg)

Thời gian bi tăng HA (năm)

Hút thuốc /đã cai thuốc lá

Đái tháo đường

Bệnh mạch vành

Nhồi máu cơ tim

Suy tim

Đột quỵ/TIA

Tăng lipid-máu

Bệnh thận

Bướu lành tuyến tiền liệt

Gan hóa mỡ

Thuốc ức chế tiểu cầu

Thuốc chẹn β

Thuốc ƯCMC

Thuốc lợi tiểu

Thuốc chẹn kênh calci

Thuốc chẹn α

Statin

Thuốc uống chống đái tháo đường

Insulin

59,3±9,5

158±14

94±9

5,0±4,5

711 (66,6%)

701 (65,6%)

305 (28,5%)

110 (10,3%)

86 (8,0%)

40 (3,7%)

24 (2,2%)

95 (8,9%)

181 (16,9%)

462 (43,2%)

333 (31,2%)

337 (31,5%)

103 (9,6%)

173 (16,2%)

198 (18,5%)

46 (4,3%)

537 (50,2%)

495 (46,3%)

119 (11,1%)

58,0±9,4

157±14

94±9

4,6±4,2

243 (63,0%)

242 (62,4%)

80 (20,6%)

34 (8,8%)

28 (7,2%)

10 (2,6%)

8 (2,1%)

32 (8,4%)

62 (16,0%)

177 (45,6%)

116 (29,9%)

123 (31,7%)

35 (9,0%)

83 (21,4%)

62 (16,0%)

13 (3,4%)

163 (42,0%)

169 (43,6%)

41 (10,6%)

60,0±9,6

159±14

95±9

5,3±4,7

476 (71,0%)

455 (67,6%)

225 (33,4%)

76 (11,3%)

57 (8,5%)

30 (4,5%)

15 (2,2%)

63 (9,4%)

118 (17,5%)

283 (42,1%)

215 (32,0%)

214 (31,8%)

67 (10,0%)

88 (13,1%)

134 (19,9%)

33 (4,9%)

372 (55,3%)

323 (48,0%)

78 (11,6%)

0,001

0,008

0,022

0,016

0,008

0,093

<0,001

0,210

0,557

0,134

1,000

0,578

0,553

0,274

0,493

1,000

0,666

0,001

0,119

0,274

<0,001

0,180

0,686

60,7±9,6

158±15

94±9

6,0±4,6

509 (70,7%)

514 (70,9%)

261 (36,0%)

98 (13,4%)

80 (11,0%)

36 (5,0%)

16 (2,2%)

86 (11,9%)

149 (20,6%)

341 (47,0%)

290 (40,0%)

337 (46,5%)

103 (14,2%)

173 (23,9%)

198 (27,3%)

46 (6,3%)

404 (55,7%)

356 (49,1%)

102 (14,1%)

56,4±8,8

159±14

96±8

3,0±3,5

215 (62,9%)

187 (54,4%)

44 (12,8%)

12 (3,5%)

6 (1,7%)

4 (1,2%)

8 (2,3%)

9 (2,6%)

32 (9,3%)

121 (35,2%)

43 (12,5%)

0 (0,0%)

0 (0,0%)

0 (0,0%)

0 (0,0%)

0 (0,0%)

133 (38,7%)

139 (40,4%)

17 (4,9%)

<0,001

0,356

<0,001

<0,001

0,011

<0,001

<0,001

<0,001

<0,001

0,002

1,000

<0,001

<0,001

0,001

<0,001

<0,001

0,009

<0,001

Chữ viết tắt: HA, huyết áp; TIA, cơn thiếu máu não thoáng qua; ƯCMC, ức chế men chuyển.

Trong bảng trình bày các đặc trưng ban đầu và thuốc đang dùng lúc ban đầu của tất cả bệnh nhân và các phân nhóm bệnh nhân điều trị với irbesartan hoặc irbesartan/HCTZ; bệnh nhân có hoặc không điều trị thuốc chống tăng áp từ trước


từ trước (tâm thu -23±15 mmHg, P=0,004; tâm trương -13±9 mmHg, P<0,001).

Lúc ban đầu, 779 bệnh nhân (80,6%) cho biết vẫn ham muốn sinh hoạt tình dục đều đặn. Khi tái khám sau 6 tháng, con số này tăng lên 848 bệnh nhân (87,8%, P<0,0001). Một phần ba (27,6%) số bệnh nhân được điều trị với irbesartan hoặc irbesartan/ HCTZ trong 6 tháng có sự gia tăng có ý nghĩa về tần suất sinh hoạt tình dục (P<0,0001). Mức gia tăng tần suất sinh hoạt tình dục không khác nhau có ý nghĩa giữa các phân nhóm được phân tích (irbesartan 30,6%, irbesartan/HCTZ 26,1%, P=0,16; điều trị chống tăng áp từ trước 27,0%, không điều trị chống tăng áp từ trước 34,0%, P=0,52).

Có 1.024 bệnh nhân trả lời bộ câu hỏi IIEF, cho thấy tỉ lệ RLCD là 78,5% và điểm số RLCD trung bình là 16,9±9,2 trong quần thể nghiên cứu lúc ban đầu. IIEF và điểm số KEED có tương quan chặt chẽ với nhau xét về mặt đánh giá RLCD (-0,8597, P<0,0001).

Các yếu tố tiên đoán rối loạn cương dương

Trong phân tích đơn biến, các yếu tố nguy cơ tim mạch và các bệnh đi kèm lúc ban đầu có tương quan với tổng số điểm bị giảm đi trong mục RLCD của IIEF, chứng tỏ giảm chức năng cương dương (Bảng 2). Huyết áp tâm thu (P=0,025) và tâm trương (P=0,024), cũng như thời gian bị bệnh tăng huyết áp (P<0,0001) tương quan có ý nghĩa với mục RLCD trong IIEF. Nồng độ HDL (P=0,733), triglycerid (P=0,172) hoặc LDL (P=0,092) trong huyết thanh không có ảnh hưởng có ý nghĩa nào trên chức năng cương dương.

Việc đang sử dụng thuốc chẹn kênh calci (P=0,0008), thuốc lợi tiểu (P<0,0001), thuốc chống đái tháo đường (P<0,0001) và statin (P=0.003) làm suy giảm chức năng cương dương một cách có ý nghĩa, trong khi thuốc chẹn β (P=0,229), thuốc ƯCMC (P=0,099) và thuốc chẹn α (P=0,105) không có ảnh hưởng có ý nghĩa trên chức năng cương dương trong phân tích đơn biến.

Bảng 2. Sự kết hợp của các yếu tố nguy cơ tim mạch và các tình trạng đi kèm với chức năng cương dương trong phân tích đơn biến

Biến số

Trị số P

Hệ số

tương quan

Tuổi

Chỉ số thân khối (BMI)

HbA1c

HA tâm thu

HA tâm trương

Thời gian bệnh tăng HA

Nhịp tim

Vòng bụng

Hút thuốc lá

Đái tháo đường

Bệnh mạch vành

Suy tim

Tiền sử nhồi máu cơ tim

Bướu lành tuyến tiền liệt

<0,0001

<0,0001

0,0159

0,0250

0,0242

<0,0001

0,0019

<0,0001

0,0045

0,0003

<0,0001

<0,0001

0,0052

<0,0001

-0,4566

-0,1359

-0,0785

-0,0692

-0,0696

-0,1977

-0,0964

-0,1230

-0,0877

-0,1120

-0,2452

-0,1438

-0,0860

-0,1627

Sự tương quan được thực hiện với mục rối loạn cương dương trong IIEF, giảm số điểm chứng tỏ giảm chức năng cương dương


Ảnh hưởng của điều trị trên chức năng cương dương

Tỉ lệ lưu hành và độ nặng của RLCD giảm rõ rệt sau 6 tháng điều trị (P<0,0001; Hình 1). Kết quả này độc lập với liều lượng irbesartan và không bị thay đổi có ý nghĩa khi dùng thêm HCTZ: điểm số IIEF: +3,9±7,4 (irbesartan 150 mg), +3,5±5,7 (irbesartan 300 mg), +4,4±7,0 (irbesartan 150 mg/HCTZ 12,5 mg) và +4,3±7,2 (irbesartan 300 mg/HCTZ 12,5 mg; mức khác biệt giữa các nhóm: không có ý nghĩa; Hình 2). Biên độ tăng điểm số IIEF tương tự nhau ở bệnh nhân có (+4,0±6,8) và không (+4,2±7,0) điều trị chống tăng áp từ trước (P=0,639). Tỉ lệ chung của RLCD trong quần thể giảm một cách nhất quán từ 78,5% lúc đầu xuống 63,7% khi tái khám sau 6 tháng (P<0,0001). Tỉ lệ RLCD khi tái khám cũng giảm ở bệnh nhân có và không có điều trị chống tăng áp từ trước, theo thứ tự là từ 71,8 xuống 56,5% và 81,8 xuống 67,1% (P=0,144 đối với mức khác biệt giữa hai nhóm). Mức giảm RLCD ở bệnh nhân dùng irbesartan (từ 74,5 xuống 58,3% khi tái khám) so với bệnh nhân dùng irbesartan/HCTZ (từ 80,9 xuống 66,6% khi tái khám, P=0.188 đối với mức khác biệt giữa hai nhóm) không khác nhau có ý nghĩa. Việc đánh giá RLCD bằng điểm số KEED (với 969 bộ câu hỏi được trả lời đầy đủ) phù hợp với kết quả của IIEF trong việc phát hiện mức giảm có ý nghĩa của tỉ lệ RLCD sau khi điều trị với irbesartan hoặc irbesartan/HCTZ (từ 58,3% lúc đầu xuống 38,5% khi tái khám sau 6 tháng (P<0,0001).

Chức năng khoái cảm và sự hài lòng khi giao hợp được cải thiện rõ rệt sau 6 tháng điều trị với irbesartan hoặc irbesartan/HCTZ (Hình 3).

Bàn luận

RLCD là một vấn đề lớn ở người già và được xem là một triệu chứng sớm của xơ cứng mạch máu toàn thân.4 Trong dân số chung, tỉ lệ lưu hành của RLCD chiếm khoảng 20–30% và tăng nhanh theo tuổi.2 Hơn nữa, vì sự kết hợp của các yếu tố nguy cơ tim mạch và bệnh tim mạch với RLCD, tỉ lệ RLCD tăng đến 50–75% ở bệnh nhân có nguy cơ cao tim mạch, tùy theo phương pháp đánh giá được dùng.3,17,18

Bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa, bao gồm các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, kháng insulin, béo phì và rối loạn lipid-máu, được xem là có bẩm chất phát triển các bệnh tim mạch, vốn góp phần vào vai trò ngày càng tăng của hội chứng chuyển hóa trong kinh tế y tế, đặc biệt là ở những nước công nghiệp phương Tây.19 Nghiên cứu này đã chứng minh tỉ lệ lưu hành cao của RLCD trên bệnh nhân tăng huyết áp có hội chứng chuyển hóa, vốn là quần thể có nguy cơ tim mạch cao.20 Vì nitric oxid có vai trò quyết định trong sinh lý học của chức năng cương dương, sự suy giảm của lớp nội mô trong các động mạch dương vật và thể hang có thể giải thích cho những kết quả này.

Các yếu tố nguy cơ tim mạch và rối loạn cương dương

Tuổi, chỉ số thân khối, vòng bụng, tăng huyết áp, thời gian bị bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, hút thuốc lá, bệnh mạch vành, suy tim, nhồi máu cơ tim và phì đại tuyến tiền liệt lành tính, tất cả đều kết hợp với giảm điểm số RLCD của IIEF trong phân tích đơn biến, tức là kết hợp với suy chức năng cương dương. Quan sát này cho thấy rõ sự kết hợp của các yếu tố nguy cơ tim mạch với RLCD trên bệnh nhân tăng huyết áp có hội chứng chuyển hóa.3,21

Thuốc điều trị tăng huyết áp và đái tháo đường được khẳng định là góp phần làm suy giảm chức năng cương dương. 3,22,23 Số liệu hiện có cho thấy một sự kết hợp của giảm chức năng cương dương với việc đang dùng thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn kênh calci, thuốc chống đái tháo đường và statin. Những kết quả này phù hợp với các kết quả trước đây đã chứng minh có sự suy giảm chức năng cương dương ở bệnh nhân được điều trị thuốc chẹn kênh calci nifedipin và thuốc lợi tiểu chlorthalidone, nhưng không nhận thấy ở bệnh nhân dùng thuốc chẹn β.20,23–26 Ảnh hưởng bất lợi của điều trị statin trên chức năng cương dương có phần gây ngạc nhiên, nếu xét đến các tác dụng đa hướng của statin, ví dụ như sự cải thiện chức năng nội mô nhờ sự điều hòa tăng tổng hợp nitric oxide synthase nội mô mạch máu.27,28 Gần đây, thuốc ức chế hydroxymethylglutaryl (HMG) coenzyme A reductase rosuvastatin cho thấy có tác dụng có lợi trên chức năng cương dương của chuột nhắt bị đái tháo đường.29 Hơn nữa, trên bệnh nhân RLCD được dùng sildenafil, atorvastatin có xu hướng cải thiện chức năng cương dương.30 Như vậy, ít có khả năng xảy ra suy giảm chức năng cương dương do điều trị statin. Trái lại, với điều kiện là chức năng nội mô được cải thiện do điều trị statin, tác dụng này phải được xem là có lợi cho chức năng cương dương. Có thể giải thích những kết quả mâu thuẫn nhau trong nghiên cứu của chúng tôi là do những bệnh đi kèm khác nhau hiện diện trên bệnh nhân được điều trị statin. Điều trị với statin thường gặp hơn trên bệnh nhân đã điều trị tăng huyết áp từ trước cũng như bệnh nhân được điều trị với phối hợp irbesartan/ HCTZ. Bệnh nhân trong những phân nhóm này có xu hướng có bệnh đi kèm rõ rệt hơn, như tăng huyết áp, đái tháo đường v.v…, và những yếu tố quyết định khác nhau như tuổi tác.

Ảnh hưởng của irbesartan trên chức năng cương dương

RLC-h1

Sự ức chế RAS gần đây đã được chứng minh là làm tăng tần suất quan hệ tình dục.11,12 Hơn nữa, chẹn chọn lọc thụ thể angiotensin với valsartan hoặc losartan cải thiện được chức năng cương dương và ham muốn tình dục trên bệnh nhân tăng huyết áp nam giới.9,10 Ngoài ra, thuốc đối kháng thụ thể angiotensin irbesartan còn làm giảm huyết áp, giảm kháng insulin và rối loạn chức năng nội mô một cách có ý nghĩa trên bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa.13,31 Những kết quả đó đều phù hợp với kết quả của nghiên cứu này, chứng minh rằng huyết áp tâm thu và tâm trương giảm rõ rệt khi điều trị với irbesartan hoặc irbesartan/HCTZ, cũng như sự kết hợp của những phác đồ điều trị này với sự gia tăng ham muốn tình dục và tần suất quan hệ tình dục. Vì thế, điểm số chức năng cương dương tăng lên trong suốt thời gian 6 tháng điều trị với thuốc đối kháng thụ thể angiotensin, chứng tỏ sự cải thiện chức năng cương dương. Tỉ lệ RLCD giảm khoảng 15% ở tất cả các phân nhóm bệnh nhân. Tác dụng tích cực của điều trị trên chức năng cương dương có nhiều khả năng là do giảm huyết áp. Ý kiến này được ủng hộ bởi kết quả của những bệnh nhân không điều trị chống tăng áp từ trước. Sự cải thiện chức năng cương dương rõ rệt hơn ở phân nhóm này, có thể vì giảm được huyết áp tâm thu và tâm trương, cao hơn một cách có ý nghĩa so với bệnh nhân đã dùng thuốc điều trị chống tăng áp trước khi nhận vào nghiên cứu.

Thuốc lợi tiểu được cho là làm suy giảm chức năng cương dương.23 Điều đáng ngạc nhiên là sự cải thiện chức năng cương dương cũng như sự thay đổi tỉ lệ RLCD trên bệnh nhân vẫn tương tự bất kể việc cho thêm thuốc lợi tiểu HCTZ vào phác đồ điều trị. Mặt khác, các tác dụng có lợi của irbesartan có nhiều khả năng vượt xa các ảnh hưởng bất lợi của thuốc lợi tiểu trên chức năng cương dương. Hơn nữa, huyết áp giảm nhiều hơn một cách có ý nghĩa trên bệnh nhân được điều trị với thuốc phối hợp. Như vậy, ảnh hưởng tiêu cực của thuốc lợi tiểu trên chức năng cương dương có thể bị áp đảo bởi sự cải thiện mức giảm huyết áp ở những bệnh nhân này. Mặt khác, một nghiên cứu trước đây chứng tỏ sự suy giảm chức năng cương dương do điều trị thuốc lợi tiểu chỉ phát hiện tác dụng này trong vòng 12 tháng đầu điều trị, trong khi đó sau 24 tháng điều trị, không thấy chức năng cương dương giảm thêm.23 Như vậy, trong quá trình điều trị, giảm huyết áp có nhiều khả năng khắc chế được ảnh hưởng tiêu cực đáng ngờ của thuốc lợi tiểu. Thật vậy, ý kiến này mâu thuẫn với những kết quả ở đây trong phân tích đơn biến đối với các thuốc tim mạch có ảnh hưởng đến chức năng cương dương. Mặc dù vậy, nó vẫn phù hợp với nghiên cứu đã nói trên. Thời gian theo dõi 6 tháng rõ ràng là quá ngắn cho sự cân bằng các tác dụng của thuốc lợi tiểu về mặt RLCD.

RLC-h2

Irbesartan được chứng minh là làm giảm viêm mạch máu và cải thiện chức năng nội mô được lập với tác dụng hạ áp.13 Những kết quả gần đây đều nhất quán cho thấy rằng sự phối hợp của tăng chức năng nội mô, giảm đề kháng insulin và giảm stress ôxy-hóa có nhiều khả năng giải thích cho những kết quả này trên bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa.13,19,31 Trong phân tích đơn biến, nghiên cứu này tìm thấy một sự kết hợp của nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch, đặc biệt là huyết áp, chỉ số thân khối, vòng bụng, đái tháo đường và nồng độ HbA1c với RLCD. Đặc biệt, những thông số này đều được cải thiện khi điều trị với thuốc đối kháng thụ thể angiotensin.13,31 Như vậy, các tác dụng có lợi của chẹn thụ thể angiotensin trên chức năng nội mô mạch máu rất có thể ảnh hưởng đến nội mô của các động mạch dương vật và thể hang, với sự cải thiện chức năng cương dương độc lập với huyết áp. Tuy vậy, điểu này vẫn cần được nghiên cứu thêm chứ không thể kết luận từ những kết quả của nghiên cứu này.

Phương pháp nghiên cứu và những hạn chế

IIEF là bộ câu hỏi về RLCD đã được kiểm định trên quốc tế.16,32 Hơn nữa. điểm số KEED, vốn đã được kiểm định trước đây trong dân số chung ở vùng Cologne, Đức, trong nghiên cứu Điều tra Nam giới Cologne, được dùng như một công cụ đối chứng.2,25 Kết quả của hai bộ câu hỏi này tương quan có ý nghĩa trong quần thể bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa của nghiên cứu này. Vì thế, các kết quả được cho là có giá trị và có nhiều khả năng độc lập với những câu trả lời không đúng trong bộ câu hỏi. Mặc dù vậy, không thể loại trừ sai số hệ thống còn lại do kinh nghiệm làm test của bệnh nhân, nhất là khi không có nhóm giả dược. Tuy vậy, điểm số RLCD trong IIEF trước đây đã được dùng trong nhiều thử nghiệm lâm sàng và một nghiên cứu đối chứng giả dược gần đây đã không tìm thấy bất kỳ sự thay đổi điểm số nào ở nhóm giả dược sau 12 tuần.32

Kết quả của nghiên cứu bị hạn chế bởi đây là một nghiên cứu có thiết kế công khai tên thuốc mà không có nhóm giả dược đối chứng. Bệnh nhân được nhận vào nghiên cứu này có thể được theo dõi sát hơn và được xử trí điều trị tốt hơn với tiềm năng dẫn đến sự gia tăng chức năng cương dương. Ngoài ra, tỉ lệ lưu hành cao của RLCD lúc ban đầu cũng liên quan đến sự cải thiện của bệnh nhân được điều trị. Không thể loại trừ những ảnh hưởng liên quan của các yếu tố có thể gây nhiễu này, nhưng chúng không được xem là có ý nghĩa cao so với những thay đổi rõ rệt của tỉ lệ RLCD.

Để kết luận, điều trị với thuốc đối kháng thụ thể angiotensin irbesartan hoặc phối hợp irbesartan và HCTZ đem lại sự cải thiện ham muốn tình dục, tần suất quan hệ tình dục và chức năng cương dương trên bệnh nhân tăng huyết áp có hội chứng chuyển hóa. Những tác dụng này ít ra là phần nào phụ thuộc vào mức giảm huyết áp. Trong các tác dụng có lợi của irbesartan trên chức năng cương dương, có vai trò của một cơ chế nằm ngoài tác dụng hạ áp là một ý kiến hợp lý, nhưng không thể kết luận được qua nghiên cứu này. Các tác dụng khác nhau của việc điều trị với thuốc ƯCMC, thuốc đối kháng thụ thể angiotensin hoặc phối hợp những thuốc ấy sẽ được đánh giá trong nghiên cứu phụ về RLCD của nghiên cứu ONTARGET/TRANSCEND (Ongoing Telmisartan Alone and in Combination with Ramipril Global Endpoint Trial/Telmisartan Randomized Assessment Study in ACE Intolerant Subjects with Cardiovascular Disease).20

Tài liệu tham khảo

1 National Institutes of Health. Impotence. NIH Consens State 1992; 10: 1–33.

2 Braun M, Wassmer G, Klotz T, Reifenrath B, Mathers M, Engelmann U. Epidemiology of erectile dysfunction: results of the ‘Cologne Male Survey’. Int J Impot Res 2000; 12: 305–311.

3 Feldman HA, Johannes CB, Derby CA, Kleinman KP, Mohr BA, Araujo AB et al. Erectile dysfunction and coronary risk factors: prospective results from the Massachusetts male aging study. Prev Med 2000; 30: 328–338.

4 Feldman HA, Goldstein I, Hatzichristou DG, Krane RJ, McKinlay JB. Impotence and its medical and psychosocial correlates: results of the Massachusetts male aging study. J Urol 1994; 151: 54–61.

5 Griendling KK, Minieri CA, Ollerenshaw JD, Alexander RW. Angiotensin II stimulates NADH and NADPH oxidase activity in cultured vascular smooth muscle cells. Circ Res 1994; 74: 1141–1148.

6 Rajagopalan S, Kurz S, Munzel T, Tarpey M, Freeman BA, Griendling KK et al. Angiotensin II-mediated hypertension in the rat increases vascular superoxide production via membrane NADH/NADPH oxidase activation. Contribution to alterations of vasomotor tone. J Clin Invest 1996; 97: 1916–1923.

7 Kifor I, Williams GH, Vickers MA, Sullivan MP, Jodbert P, Dluhy RG. Tissue angiotensin II as a modulator of erectile function. I. Angiotensin peptide content, secretion and effects in the corpus cavernosum. J Urol 1997; 157: 1920–1925.

8 Friedrich EB, Teo KK, Bohm M. ACE inhibition in secondary prevention: are the results controversial? Clin Res Cardiol 2006; 95: 61–67.

9 Llisterri JL, Lozano Vidal JV, Aznar Vicente J, Argaya Roca M, Pol Bravo C, Sanchez Zamorano MA et al. Sexual dysfunction in hypertensive patients treated with losartan. Am J Med Sci 2001; 321: 336–341.

10 Dusing R. Effect of the angiotensin II antagonist valsartan on sexual function in hypertensive men. Blood Press Suppl 2003; 2: 29–34.

11 Fogari R, Zoppi A, Poletti L, Marasi G, Mugellini A, Corradi L. Sexual activity in hypertensive men treated with valsartan or carvedilol: a crossover study. Am J Hypertens 2001; 14: 27–31.

12 Fogari R, Zoppi A, Corradi L, Mugellini A, Poletti L, Lusardi P. Sexual function in hypertensive males treated with lisinopril or atenolol: a cross-over study. Am J Hypertens 1998; 11: 1244–1247.

13 Sola S, Mir MQ, Cheema FA, Khan-Merchant N, Menon RG, Parthasarathy S et al. Irbesartan and lipoic acid improve endothelial function and reduce markers of inflammation in the metabolic syndrome: results of the Irbesartan and Lipoic Acid in Endothelial Dysfunction (ISLAND) study. Circulation 2005; 111: 343–348.

14 Ortlepp JR, Breuer J, Eitner F, Kluge K, Kluge R, Floege J et al. Inhibition of the renin-angiotensin system ameliorates genetically determined hyperinsulinemia. Eur J Pharmacol 2002; 436: 145–150.

15 Lewis EJ, Hunsicker LG, Rodby RA. A clinical trial in type 2 diabetic nephropathy. Am J Kidney Dis 2001; 38: S191–S194.

16 Rosen RC, Riley A, Wagner G, Osterloh IH, Kirkpatrick J, Mishra A. The international index of erectile function (IIEF): a multidimensional scale for assessment of erectile dysfunction. Urology 1997; 49: 822–830.

17 Baumhakel M, Werner N, Bohm M, Nickenig G. Circulating endothelial progenitor cells correlate with erectile function in patients with coronary heart disease. Eur Heart J 2006; 27: 2184–2188.

18 Laufs U, Endres M, Custodis F, Gertz K, Nickenig G, Liao JK et al. Suppression of endothelial nitric oxide production after withdrawal of statin treatment is mediated by negative feedback regulation of rho GTPase gene transcription. Circulation 2000; 102: 3104–3110.

19 Pershadsingh HA. Treating the metabolic syndrome using angiotensin receptor antagonists that selectively modulate peroxisome proliferator-activated receptor-gamma. Int J Biochem Cell Biol 2006; 38: 766–781.

20 Bohm M, Baumhakel M, Probstfield JL, Schmieder R, Yusuf S, Zhao F et al. Sexual function, satisfaction, and association of erectile dysfunction with cardiovascular disease and risk factors in cardiovascular high-risk patients: substudy of the ONgoing Telmisartan Alone and in Combination with Ramipril Global Endpoint Trial/Telmisartan Randomized AssessmeNT Study in ACE-INtolerant Subjects with Cardiovascular Disease (ONTARGET/TRANSCEND). Am Heart J 2007; 154: 94–101.

21 Mannino DM, Klevens RM, Flanders WD. Cigarette smoking: an independent risk factor for impotence? Am J Epidemiol 1994; 140: 1003–1008.

22 Modebe O. Erectile failure among medical clinic patients. Afr J Med Med Sci 1990; 19: 259–264.

23 Grimm Jr RH, Grandits GA, Prineas RJ, McDonald RH, Lewis CE, Flack JM et al. Long-term effects on sexual function of five antihypertensive drugs and nutritional hygienic treatment in hypertensive men and women. Treatment of Mild Hypertension Study (TOMHS). Hypertension 1997; 29: 8–14.

24 Barksdale JD, Gardner SF. The impact of first-line antihypertensive drugs on erectile dysfunction. Pharmacotherapy 1999; 19: 573–581.

25 Franzen D, Metha A, Seifert N, Braun M, Hopp HW. Effects of beta-blockers on sexual performance in men with coronary heart disease. A prospective, randomized and double blinded study. Int J Impot Res 2001; 13: 348–351.

26 Silvestri A, Galetta P, Cerquetani E, Marazzi G, Patrizi R, Fini M et al. Report of erectile dysfunction after therapy with beta-blockers is related to patient knowledge of side effects and is reversed by placebo. Eur Heart J 2003; 24: 1928–1932.

27 Wassmann S, Ribaudo N, Faul A, Laufs U, Bohm M, Nickenig G. Effect of atorvastatin 80mg on endothelial cell function (forearm blood flow) in patients with pretreatment serum low-density lipoprotein cholesterol levels o130 mg/dl. Am J Cardiol 2004; 93: 84–88.

28 Laufs U, La Fata V, Plutzky J, Liao JK. Upregulation of endothelial nitric oxide synthase by HMG CoA reductase inhibitors. Circulation 1998; 97: 1129–1135.

29 Nangle MR, Cotter MA, Cameron NE. Effects of rosuvastatin on nitric oxide-dependent function in aorta and corpus cavernosum of diabetic mice: relationship to cholesterol biosynthesis pathway inhibition and lipid lowering. Diabetes 2003; 52: 2396–2402.

30 Bank AJ, Kelly AS, Kaiser DR, Crawford WW, Waxman B, Schow DA et al. The effects of quinapril and atorvastatin on the responsiveness to sildenafil in men with erectile dysfunction. Vasc Med 2006; 11: 251–257.

31 Sowers JR, Neutel JM, Saunders E, Bakris GL, Cushman WC, Ferdinand KC et al. Antihypertensive efficacy of Irbesartan/ HCTZ in men and women with the metabolic syndrome and type 2 diabetes. J Clin Hypertens (Greenwich) 2006; 8: 470–480.

32 Carson C, Shabsigh R, Segal S, Murphy A, Fredlund P, Kuepfer C. Efficacy, safety, and treatment satisfaction of tadalafil versus placebo in patients with erectile dysfunction evaluated at tertiary-care academic centers. Urology 2005; 65: 353–359.