slogan

 
 

topbannerv1

THÔNG TIN KHOA HỌC

Tóm Tắt

Trong những năm gần đây, can thiệp mạch vành phát triển mạnh mẽ và là phương pháp sử dụng rộng rãi trong điều trị bệnh động mạch vành. Stent phủ thuốc có hiệu quả cao, tuy nhiên cũng có những bận tâm về tái hẹp cũng như khung stent kim loại tồn tại vĩnh viễn.

Đọc tiếp...

TÓM TẮT

Mặc dù những khuyến cáo gần đây khuyến khích phối hợp nhóm chẹn kênh canxi với nhóm lợi tiểu thiazide (hoặc thiazide-like hay giống thiazide), nhưng phối hợp này không được sử dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng.

Đọc tiếp...

Tóm Tắt

Sốc tim là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ( NMCTC), tỉ lệ tử vong trước đây là 80%, nhờ các tiến bộ điều trị, tỉ lệ tử vong giảm xuống 40-50% trong thời gian gần đây.

Đọc tiếp...

Tóm tắt:Trong quá trình thăm khám lâm sàng, ghi nhận có sự khác biệt giữa tuổi thời gian so sánh với các đặc điểm và biểu hiện của tuổi sinh học.

Đọc tiếp...

TÓM TẮT

CƠ SỞ NGHIÊN CỨU

Trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 kèm nguy cơ bệnh tim mạch cao thì nhóm thuốc ức chế kênh đồng vận chuyển Natri- Glucose 2 (UCSGLT-2) như Empagliflozin và Canagliflozin đã chứng minh làm giảm tử suất tim mạch và biến cố tim mạch.

Đọc tiếp...

1.      ĐẠI CƯƠNG

Rung nhĩ là rối loạn nhịp tim thường gặp nhất trong thực hành lâm sàng với nhiều loại khác nhau về thời gian diễn tiến và các cơ chế bệnh sinh (Bảng 1, Hình 1).

Đọc tiếp...

TÓM TẮT

Mục tiêu

Bệnh nhân trong giai đoạn xuất viện sau khi nhập viện do suy tim có nguy cơ cao tái nhập viện sớm mặc dù được điều trị tích cực. Chúng tôi khảo sát sự ảnh hưởng của điều trị lâu dài Ivabradine với sự tái nhập viện sớm trên bệnh nhân suy tim nhập viện trong thời gian nghiên cứu SHIFT (Systolic Heart Failure treatment with the If inhibitor ivabradine Trial)

Đọc tiếp...

Một nghiên cứu mới cho thấy việc giảm huyết áp tâm thu tích cực xuống mức dưới 120mmHg không làm tăng nguy cơ đột quỵ, thậm chí cả khi huyết áp động mạch trung bình cũng thấp hơn.

Đọc tiếp...

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nghiên cứu sự tuân trị và tử vong khi sử dụng viên phối hợp liều cố định so với phối hợp viên rời để điều trị tăng huyết áp.

Đọc tiếp...

Tóm lược:

Đặt vấn đề: Điều trị nội khoa là chiến lược lâm sàng chính để kiểm soát các triệu chứng đau thắt ngực và thiếu máu cục bộ cơ tim đồng thời tăng khả năng dung nạp với những hoạt động thường ngày cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân mắc bệnh lý mạch vành.

Đọc tiếp...

Cơ sở

Nghiên cứu đánh giá xem liệu rivaroxaban đơn thuần hay kết hợp với aspirin có hiệu quả hơn aspirin đơn thuần trong dự phòng thứ phát bệnh tim mạch.

Phương pháp

Trong thử nghiệm lâm sàng mù đôi này, 27.395 bệnh nhân với bệnh mạch máu xơ vữa ổn định được phân ngẫu nhiên hoặc nhận rivaroxaban (2,5 mg x 2 lần / ngày) cộng với aspirin (100 mg x 1 lần / ngày), hoặc đơn trị rivaroxaban (5 mg X 2 lần / ngày) hoặc aspirin đơn thuần (100 mg x 1 lần / ngày) ). Kết cục chính là sự kết hợp tử vong do tim mạch, đột quị, hoặc nhồi máu cơ tim. Nghiên cứu này đã ngừng sớm vì sự vượt trội của nhóm dùng rivaroxaban-cộng với aspirin qua thời gian theo dõi trung bình 23 tháng.

Kết quả

Kết cục chính xảy ra ở ít bệnh nhân hơn trong nhóm dùng rivaroxaban + aspirin so với nhóm aspirin đơn thuần (379 bệnh nhân [4,1%] so với 496 bệnh nhân [5,4%], HR 0.76, 95% CI, 0.66 - 0.86, P <0.001, z = -4.126), nhưng các biến cố chảy máu nặng xảy ra ở nhiều bệnh nhân trong nhóm dùng rivaroxaban + aspirin (288 bệnh nhân [3.1%] so với 170 bệnh nhân [1.9%], HR 1.70, 95% CI, 1.40 – 2.05, P <0,001). Không có sự khác biệt đáng kể về chảy máu nội sọ hoặc chảy máu gây tử vong giữa hai nhóm này. Trong nhóm dùng rivaroxaban + aspirin có 313 trường hợp tử vong (3.4%) so với 378 (4.1%) ở nhóm dùng aspirin đơn thuần (HR 0.82, 95% CI, 0.71 - 0.96, P = 0.01, ngưỡng P giá trị cho ý nghĩa, 0.0025). Kết cục chính xảy ra không ít hơn có ý nghĩa ở nhóm dùng rivaroxaban đơn thuần so với nhóm dùng aspirin đơn thuần, nhưng các biến chứng về chảy máu nặng lại xảy ra nhiều hơn ở nhóm dùng rivaroxaban đơn thuần.

Hình 1: Tỷ suất mới mắc dồn kết cục về hiệu quả (tiêu chí gộp tử vong tim mạch, đột quỵ, nhồi máu cơ tim)

Kết luận

Ở bệnh nhân có bệnh mạch máu xơ vữa ổn định, những người được dùng rivaroxaban (2,5 mg x 2 lần / ngày) kết hợp với aspirin có kết cục tim mạch tốt hơn và biến cố chảy máu nặng nhiều hơn so với những người chỉ dùng aspirin đơn thuần. Rivaroxaban (5 mg X 2 lần / ngày) đơn thuần không có kết cục tim mạch tốt hơn so với aspirin đơn thuần nhưng gây biến cố chảy máu nặng nhiều hơn.

(Nguồn: August 27,2017, at NEJM.org. DOI: 10.1056/NEJMoa1709118)

 

 

ĐÓNG PFO HOẶC KHÁNG ĐÔNG SO VỚI KHÁNG TIỂU CẦU Ở BỆNH NHÂN SAU ĐỘT QUỊ (NGHIÊN CỨU CLOSE)

Cơ sở

Các thử nghiệm lâm sàng của đóng tồn tại lổ bầu dục (patent forame ovale-PFO) nhằm ngăn ngừa đột quị tái phát đã chưa đưa đến kết luận. Nghiên cứu này khảo sát những bệnh nhân đột quị không rõ nguồn gốc và các đặc điểm siêu âm tim cho thấy nguy cơ đột quị và sẽ có lợi từ việc đóng PFO hoặc thuốc chống đông so với điều trị bằng thuốc chống kết tập tiểu cầu.

Phương pháp

Trong thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm, ngẫu nhiên, mở nhãn này, những bệnh nhân 16 đến 60 tuổi bị đột quị gần đây do PFO, kèm với phình vách nhĩ hoặc có luồn shunt lớn được chia theo tỉ lệ 1: 1: 1 vào 1 trong 3 nhóm: hoặc nhóm đóng PFO kết hợp với liệu pháp kháng tiểu cầu dài hạn (nhóm đóng PFO), hoặc nhóm điều trị kháng tiểu cầu đơn thuần (nhóm kháng tiểu cầu), hoặc thuốc kháng đông đường uống đơn thuần (nhóm kháng đông) (nhóm ngẫu nhiên 1). Bệnh nhân có chống chỉ định thuốc kháng đông hoặc đóng PFO được phân ngẫu nhiên vào điều trị không chống chỉ định thay thế hoặc điều trị bằng kháng tiểu cầu (nhóm ngẫu nhiên 2 và 3). Kết cục chính là xảy ra đột quị. So sánh việc đóng PFO kết hợp kháng tiểu cầu với điều trị bằng kháng tiểu cầu đơn thuần được thực hiện với kết hợp dữ liệu từ các nhóm ngẫu nhiên 1 và 2, và so sánh giữa liệu pháp kháng đông uống với kháng tiểu cầu đơn thuần được thực hiện với kết hợp dữ liệu từ các nhóm ngẫu nhiên 1 và 3.

Kết quả

Tổng số 663 bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên và được theo dõi trung bình (± SD) là 5,3 ± 2,0 năm. Trong phân tích nhóm ngẫu nhiên 1 và 2, không có đột quị xảy ra ở 238 bệnh nhân trong nhóm đóng PFO, trong khi đó đột qui xảy ra ở 14 trong số 235 bệnh nhân trong nhóm kháng tiểu cầu đơn thuần (HR 0.03, 95% CI, 0 – 0.26, P <0,001). Các biến chứng thủ tục do đóng PFO xảy ra ở 14 bệnh nhân (5,9%). Tần suất rung nhĩ cao hơn ở nhóm đóng PFO so với nhóm chỉ dùng kháng tiểu cầu (4,6% so với 0,9%, P = 0,02). Số lượng các tác dụng phụ nghiêm trọng không khác biệt đáng kể giữa các nhóm điều trị (P = 0.56). Trong phân tích các nhóm ngẫu nhiên 1 và 3, đột quị xảy ra 3 trong số 187 bệnh nhân được chỉ định dùng kháng đông đường uống và ở 7 trong số 174 bệnh nhân chỉ dùng kháng tiểu cầu đơn thuần.

Hình 2: Đường Kaplan Meier xác suất dồn đột quị ở nhóm đóng PFO so với nhóm kháng tiểu cầu đơn thuần

Kết luận

Trong số những bệnh nhân đã từng bị đột quị không rõ nguồn gốc gần đây do PFO kèm với phình vách nhĩ hoặc có luồn thông lớn, tần suất đột quị tái phát trong số những người được chỉ định đóng PFO kết hợp với kháng tiểu cầu thấp hơn so với những người được chỉ dùng thuốc kháng tiểu cầu đơn thuần. Đóng PFO có liên quan đến tăng nguy cơ rung nhĩ.

 

(Nguồn:N Engl J Med 2017;377:1011-21)

Tóm tắt: Nitroglycerin là thuốc cắt cơn đau ngực tác dụng ngắn đã có từ lâu và thường được kê toa. Tuy nhiên, các lợi ích lâm sàng của thuốc trên bệnh nhân đau ngực vẫn chưa được chú trọng trong giáo dục cho bệnh nhân và các chuyên viên y tế. Nitrate gây dãn mạch máu lớn, tăng đường kính động mạch vành ở thượng tâm mạc, cải thiện tuần hoàn bàng hệ và chống kết tập tiểu cầu.

Đọc tiếp...