slogan

 
 

topbannerv1

HUẤN LUYỆN NÂNG CAO VÀ CHUYÊN SÂU

Trong những thập niên qua, nhờ những tiến bộ của kỹ thuật, đặc biệt là sử dụng năng lượng tần số radio và các dạng năng lượng khác trong việc loại bỏ (ablation) các đường dẫn truyền và các ổ gây ra loạn nhịp trong đó có các đường dẫn truyền phụ (accessory pathway: AP) cũng như trong việc đưa ra các thuật toán nhằm xác định vị trí các đường phụ dẫn truyền nhĩ thất… việc điều trị rối loạn nhịp đã đạt được những bước tiến lớn và dần khẳng định hình thành một phân ngành trong điều trị rối loạn nhịp là can thiệp điện sinh lý tim.

Đọc tiếp...

Sự cần thiết phải đánh giá nguy cơ đột tử do tim

            Theo tính toán ở Hoa Kỳ năm 1999 có khoảng 450.00 bị đột tử tim (SCD) và chiếm 15% toàn bộ tử suất. Theo thống kê của ESC từ năm 2004 đến 2008 số các bệnh nhân được cấy ICD là khoảng 355 đến 369 người trên 1 triệu dân và nhu cầu này càng tăng vì các bệnh nhân có nguy cơ đột tử tim tăng nhanh.

Đọc tiếp...

Trong hội nghị của Hội Nhịp Tim Hoa kỳ thường niên tổ chức tại San-Francisco từ 7 đến 10 tháng 5 năm 2014, các nghiên cứu được báo cáo có liên quan đến các thiết bị được cấy vào cơ thể để điều trị rối loạn nhịp tim có 2 điểm được quan tâm chú ý đó là: máy tạo nhịp cấy vào buồng thất phải không dây điện cực, điện cực thất trái cho máy tạo nhịp điều trị suy tim với 4 vị trí tạo nhịp đã cải thiện được tử suất và chi phí điều trị.

Đọc tiếp...

5.5. Trị liệu hướng đến nguồn gốc: Khuyến cáo

Class IIa

1. Ức chế ACE hoặc ức chế thụ thể angiotensin (ARB ) là phù hợp cho dự phòng tiên phát cơn khởi phát AF mới ở các bệnh nhân HF có LVEF giảm (148-150). ( Mức độ bằng chứng: B)

Đọc tiếp...

Vấn đề rối loạn nhịp thất sau nhồi máu cơ tim là một vấn đề lớn, mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong điều trị như can thiệp động mạch vành tiên phát và các thuốc điều trị đã có một dự hậu tốt gián tiếp và trực tiếp làm giảm rối loạn nhịp tim.

Đọc tiếp...

Class III: Không có lợi ích

1. Các chất ức chế thrombin trực tiếp, dabigatran và các chất ức chế yếu tố Xa, rivaroxaban, không được khuyến cáo ở bệnh nhân AF và suy thận giai đoạn cuối hoặc chạy thận nhân tạo vì thiếu bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng liên quan đến những nguy cơ và lợi ích (75 -77, 85-87). ( Mức độ bằng chứng: C)

Đọc tiếp...

Tiếp theo các hướng dẫn điều trị rung nhĩ (atrial fibrillation: AF) của AHA/ACC/HRS/ESC các năm trước, ngày 21 tháng 3 năm 2014 tạp chí Tim Mạch học Hoa kỳ (JACCC) đã đăng bản hướng dẫn điều chỉnh các bệnh nhân rung nhĩ. Đây là một hướng dẫn về điều trị rung nhĩ mới nhất.

Đọc tiếp...

Đặt vấn đề

Hạ huyết áp có triệu chứng sau khi đứng hoặc ăn là một vấn đề lâm sàng thường gặp, đặc biệt ở người già. Các triệu chứng thường do giảm tưới máu não và suy yếu nói chung, chóng mặt hoặc hoa mắt hoặc tối sầm, trong trường hợp nặng có thể ngất.

Đọc tiếp...

MỞ ĐẦU:

Trong những năm gần đây, CT đã trở thành một phương tiện chẩn đoán hình ảnh quan trọng và quen thuộc trong bệnh lý tim mạch nói chung và đặc biệt trong BĐMV.

Đọc tiếp...

- SDANN - SDANN chỉ có ý nghĩa khi ghi thời gian dài hơn và cũng thu được nhịp sinh học trong 24 giờ. Điều này cũng đúng sự thật của ULF đo chỉ số gần như tương tự.

Đọc tiếp...

Đặt vấn đề

Ở Việt Nam chúng ta, trong những  năm gần đây đã có một số báo cáo đơn lẻ về vai trò tần số tim cũng như sự biến đổi của nó trong việc dự báo  nguy cơ các biến cố tim mạch. Chúng tôi muốn trình bày một cách tương đối hệ thống hơn trên cơ sở chứng cứ về vấn đề này.

Đọc tiếp...

RUNG THẤT

Rung thất (VF) là cơ chế thường gặp nhất của đột tử tim (SCD). Đây là một loạn nhịp thất nhanh, vô tổ chức nhanh chóng dẫn đến co bóp thất không thay đổi, không cung lượng tim và huyết áp không đo được.

Đọc tiếp...