slogan

 
 

HUẤN LUYỆN NÂNG CAO VÀ CHUYÊN SÂU

Mở đầu

          Đầu năm 2014 chúng tôi đã đăng bài trên tạp chí về “Tái cực sớm”. Đến nay một số quan niệm về tái cực sớm đã được mở rộng hơn, một số vấn đề về tính di truyền… đã có những phát hiện hé mở.

Đọc tiếp...

Ngừng tim do xoẵn đỉnh (torsade de points: TdP) dưới dạng hội chứng QT kéo dài (long QT syndrome: LQTS) mắc phải gây ra do thuốc là một biến cố hiếm nhưng là một thảm họa tiềm tàng trong môi trường bệnh viện.

Đọc tiếp...

Vấn đề tìm nguồn gốc của đột quỵ do thiếu máu cục bộ hoặc cơn thiếu máu não tạm thời (TIA) là một vần đề quan trọng sau biến cố.

Đọc tiếp...

Mở đầu

Tiếp theo các bài đã đăng ở các số trước, trong bài này chúng tôi đề cập đến vấn đề điều trị bệnh nhân có hội chứng hoặc mẫu điện tâm đồ có kích thích sớm (WPW) bằng các phương pháp cả không thuốc và thuốc, được cập nhật từ các hướng dẫn mới nhất về điều trị rối loạn nhịp có liên quan đến kích thích sớm.

Đọc tiếp...

Mở đầu

Trong bài viết trước, chúng tôi đã trình bầy về giải phẫu đường dẫn truyền phụ (AP) và cách xác định vị trí một cách định hướng bằng điện tâm đồ (ECG) bề mặt. để tiện theo dõi chúng tôi nhắc lại sơ đồ đường phụ như hình dưới (hình 1).

Đọc tiếp...

 Theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (2010), tỷ lệ người cao tuổi so với tổng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, hay dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017.

Đọc tiếp...

Trong những thập niên qua, nhờ những tiến bộ của kỹ thuật, đặc biệt là sử dụng năng lượng tần số radio và các dạng năng lượng khác trong việc loại bỏ (ablation) các đường dẫn truyền và các ổ gây ra loạn nhịp trong đó có các đường dẫn truyền phụ (accessory pathway: AP) cũng như trong việc đưa ra các thuật toán nhằm xác định vị trí các đường phụ dẫn truyền nhĩ thất… việc điều trị rối loạn nhịp đã đạt được những bước tiến lớn và dần khẳng định hình thành một phân ngành trong điều trị rối loạn nhịp là can thiệp điện sinh lý tim.

Đọc tiếp...

Sự cần thiết phải đánh giá nguy cơ đột tử do tim

            Theo tính toán ở Hoa Kỳ năm 1999 có khoảng 450.00 bị đột tử tim (SCD) và chiếm 15% toàn bộ tử suất. Theo thống kê của ESC từ năm 2004 đến 2008 số các bệnh nhân được cấy ICD là khoảng 355 đến 369 người trên 1 triệu dân và nhu cầu này càng tăng vì các bệnh nhân có nguy cơ đột tử tim tăng nhanh.

Đọc tiếp...

Trong hội nghị của Hội Nhịp Tim Hoa kỳ thường niên tổ chức tại San-Francisco từ 7 đến 10 tháng 5 năm 2014, các nghiên cứu được báo cáo có liên quan đến các thiết bị được cấy vào cơ thể để điều trị rối loạn nhịp tim có 2 điểm được quan tâm chú ý đó là: máy tạo nhịp cấy vào buồng thất phải không dây điện cực, điện cực thất trái cho máy tạo nhịp điều trị suy tim với 4 vị trí tạo nhịp đã cải thiện được tử suất và chi phí điều trị.

Đọc tiếp...

5.5. Trị liệu hướng đến nguồn gốc: Khuyến cáo

Class IIa

1. Ức chế ACE hoặc ức chế thụ thể angiotensin (ARB ) là phù hợp cho dự phòng tiên phát cơn khởi phát AF mới ở các bệnh nhân HF có LVEF giảm (148-150). ( Mức độ bằng chứng: B)

Đọc tiếp...

Vấn đề rối loạn nhịp thất sau nhồi máu cơ tim là một vấn đề lớn, mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong điều trị như can thiệp động mạch vành tiên phát và các thuốc điều trị đã có một dự hậu tốt gián tiếp và trực tiếp làm giảm rối loạn nhịp tim.

Đọc tiếp...

Class III: Không có lợi ích

1. Các chất ức chế thrombin trực tiếp, dabigatran và các chất ức chế yếu tố Xa, rivaroxaban, không được khuyến cáo ở bệnh nhân AF và suy thận giai đoạn cuối hoặc chạy thận nhân tạo vì thiếu bằng chứng từ các thử nghiệm lâm sàng liên quan đến những nguy cơ và lợi ích (75 -77, 85-87). ( Mức độ bằng chứng: C)

Đọc tiếp...