Nghiên cứu Accomplish: Benazepril/Amlodipine (ức chế men chuyển/ chẹn canxi) hay Benazepril/Hydroclothiazide (ức chế men chuyển/lợi tiểu) cho bệnh nhân tha có nguy cơ cao?

0
574

CƠ SỞ KHOA HỌC

Chiến lược phối hợp tối ưu cho bệnh nhân tăng huyết áp (THA) vẫn chưa được thiết lập, mặc dù khuyến cáo của Mỹ hiện tại vẫn hướng dẫn có sự hiện diện của lợi tiểu.

 

Kenneth Jamerson, M.D., Michael A. Weber, M.D., George L. Bakris, M.D., Bjorn Dahlof, M.D.,

Bertram Pitt, M.D., Victor Shi, M.D., Allen Hester, Ph.D., Jitendra Gupte, M.S., Marjorie Gatlin,

M.D., and Eric J. Velazquez, M.D., for the Accomplish trial investigators*

Hiệu đính: TS.BS HOÀNG VĂN SỸ

Khoa Tim mạch can thiệp, BV Chợ Rẫy

 

Chúng tôi đặt ra giả thiết rằng điều trị với phối hợp thuốc giữa ức chế men chuyển với chẹn canxi dihydropyridine có thể hiệu quả hơn trong việc giảm tỷ lệ các biến cố tim mạch so với phối hợp giữa ức chế men chuyển với lợi tiểu thiazide.

 

PHƯƠNG PHÁP

Nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi với 11,506 bệnh nhân THA có yếu tố nguy cơ tim mạch cao; chia làm hai nhóm điều trị với benazepril/amlodipine và benazepril/HCTZ.

Tiêu chí đánh giá chính là tổ hợp tử vong do nguyên nhân tim mạch, nhồi máu cơ tim không tử vong, đột quỵ không tử vong, nhập viện do đau thắt ngực, hồi phục sau đột tử do tim và tái thông mạch vành.

 

KẾT QUẢ

Đặc điểm ban đầu của 2 nhóm bệnh nhân như nhau. Nghiên cứu kết thúc sớm sau 36 tháng theo dõi, khi đạt tiêu chuẩn quy định kết thúc nghiên cứu được định trước. Mức huyết áp trung bình sau khi điều chỉnh liều là 131.6/73.3 mmHg ở nhóm sử dụng benazepril/amlodipine và 132.5/74.4 mmHg ở nhóm sử dụng benazepril/ hydroclothiazide. Có 552 biến cố thuộc tiêu chí đánh giá chính đã xảy ra ở nhóm benazepril/amlodipine (9.6%) và 679 biến cố xảy ra ở nhóm benazepril/hydroclothiazide (11.8%); và phác đồ phối hợp benazepril/amlodipine giảm 2.2% nguy cơ tuyệt đối và giảm 19.6% nguy cơ tương đối (tỷ suất rủi ro 0.80; khoảng tin cậy 95%, 0.72 – 0.90; p<0.001).

Tiêu chí đánh giá thứ phát bao gồm tử vong do nguyên nhân tim mạch, nhồi máu cơ tim không tử vong, đột quỵ không tử vong giảm 24% ở nhóm sử dụng benazepril/amlodipine so với nhánh sử dụng benazepril/hydroclothiazide (tỷ suất rủi ro 0.79; khoảng tin cậy 95%, 0.67 – 0.92; p=0.002). Tỷ lệ xảy ra tác dụng phụ tương đồng với những quan sát được từ những kinh nghiệm lâm sàng trước đây của nhóm thuốc nghiên cứu.

 

KẾT LUẬN

Phối hợp ức chế men chuyển/ chẹn canxi –  benazepril/amlodipine vượt trội hơn ức chế men chuyển/lợi tiểu – benazepril/ hydroclothiazide trong việc giảm biến cố tim mạch ở bệnh nhân THA kèm yếu tố nguy cơ tim mạch cao.

 

 

NGHIÊN CỨU ASCOT-BPLA:

NGĂN NGỪA BIẾN CỐ TIM MẠCH VỚI CHIẾN LƯỢC ĐIỀU TRỊ AMLODIPINE PHỐI HỢP VỚI PERINDOPRIL SO VỚI ATENOLOL PHỐI HỢP VỚI BENDROFLUMETHIAZIDE

 

Bjorn Dahlof, Peter S Sever, Neil R Poulter, Hans Wedel, D Gareth Beevers,

Mark Caulfield, Rory Collins, Sverre E Kjeldsen, Arni Kristinsson, Gordon T McInnes,

Jesper Mehlsen, Markku Nieminen, Eoin O´Brien, Jan Ưstergren, for the ASCOT investigators*

 

CƠ SỞ KHOA HỌC

Những nghiên cứu trước đây trong việc ngăn ngừa bệnh mạch vành đã ghi nhận những bất lợi của phối hợp lợi tiểu với chẹn beta. Với một mức giảm huyết áp được định sẵn, một vài ý kiến đề nghị rằng những chiến lược điều trị hiện đại sẽ mang lại những lợi ích vượt trội hơn chẹn beta và lợi tiểu. Do vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh tác động của hai chiến lược điều trị perindopril/amlodipine và atenolol/lợi tiểu trong trên nhồi máu cơ tim không tử vong và bệnh mạch vành tử vong.

 

PHƯƠNG PHÁP

Nghiên cứu tiền cứu, đa trung tâm, phân phối ngẫu nhiên với 19,257 bệnh nhân THA có độ tuổi từ 40 – 79 và có ít nhất 3 yếu tố nguy cơ tim mạch khác. 9639 bệnh nhân được phân phối vào nhóm sử dụng amlodipine cộng thêm perindopril nếu cần; 9618 bệnh nhân được phân phối vào nhóm sử dụng atenolol cộng thêm lợi tiểu nếu cần. Tiêu chí đánh giá chính là nhồi máu cơ tim không tử vong (bao gồm nhồi máu cơ tim thầm lặng) và bệnh mạch vành tử vong.

 

KẾT QUẢ

Nghiên cứu đã kết thúc sớm sau 5.5 năm theo dõi và có tổng cộng 106.153 bệnh nhân – năm được theo dõi. Mặc dù không có ý nghĩa thống kê khi so sánh với nhóm điều trị với atenolol/lợi tiểu, những biến cố thuộc tiêu chí đánh giá chính ít xảy ra ở nhóm bệnh nhân điều trị với perindopril/amlodipine (429 so với 474; tỷ suất rủi ro chưa hiệu chỉnh 0.90, khoảng tin cậy 95% 0.79 – 1.02, p=1052), đột quỵ tử vong và không tử vong (327 so với 422; tỷ suất rủi ro 0.77, khoảng tin cậy 95% 0.66 – 0.89, p=0.0003), biến cố tim mạch tổng cộng và phẫu thuật (1362 so với 1602; tỷ suất rủi ro 0.84, khoảng tin cậy 95% 0.78 – 0.90, p<0.0001), tử vong do mọi nguyên nhân (738 so với 820; tỷ suất rủi ro 0.89, khoảng tin cậy 95% 0.81 – 0.99, p=0.025). Tần suất tiến triển tiểu đường ít hơn ở nhánh bệnh nhân ở nhóm điều trị với perindopril/amlodipine.

 

KẾT LUẬN

Chiến lược điều trị với perindopril/ amlodipine ngăn ngừa nhiều biến cố tim mạch chính và giảm tiến triển đái tháo đường hơn atenolol/ lợi tiểu. Dựa vào bằng chứng của các nghiên cứu trước đây, những tác động này không thể được giải thích hoàn toàn bởi sự kiểm soát tốt hơn; và điều này sẽ được giải thích rõ hơn trong các bài báo đi kèm. Tuy nhiên, những kết quả này cũng gợi ý mạnh mẽ những phối hợp thuốc tối ưu trong các điều trị chống tăng huyết áp.