Bản tin tổng hợp – Tháng 12/2019

0
513

NGUY CƠ TỬ VONG TIM MẠCH TĂNG Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ

Trong một nghiên cứu dựa trên dân số bao gồm hơn 3 triệu bệnh nhân trong khoảng thời gian 40 năm, cứ 10 bệnh nhân ung thư thì có 1 người không chết vì ung thư mà chết vì bệnh tim mạch. Tử vong liên quan đến ung thư xảy ra ở 4 trong số 10 bệnh nhân.

Phát hiện này xuất phát từ việc phân tích dữ liệu từ cơ sở dữ liệu của Surveillance, Epidemiology, and End Results (SEER). Nghiên cứu được công bố trực tuyến vào ngày 24 tháng 11 trên Tạp chí Châu Âu.

Trong một bài xã luận đi kèm, bác sĩ tim mạch-ung thư Joerg Herrmann, từ Mayo Clinic, Rochester, Minnesota, viết rằng “điều quan trọng là … xác nhận rằng bệnh nhân ung thư có nguy cơ tử vong do tim mạch cao gấp 2 đến 6 lần so với dân số chung…”

Một cách tiếp cận quản lý hiệu quả khi các biểu hiện lâm sàng và các biến chứng phát sinh không theo thứ tự là tiếp cận chủ động, nên bắt đầu trước khi bệnh nhân được điều trị ung thư và tiếp tục theo dõi suốt đời.

Bệnh nhân ung thư có nguy cơ cao hơn

Khi số người sống sót sau ung thư tăng lên, tỷ lệ tử vong do tim mạch sẽ tiếp tục tăng, cả hai tác giả Nicholas G. Zaorsky, bác sĩ xạ trị ung thư và bác sĩ Kathleen Sturgeon tại Đại học Y khoa bang Pennsylvania, Hershey, bình luận trong một tuyên bố.

Theo Zaorsky và các đồng nghiệp: Bằng chứng cơ bản được cung cấp bởi nghiên cứu này là đặc điểm của 28 vị trí ung thư có nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch và cung cấp cái nhìn sâu sắc về nguy cơ tử vong bệnh tim mạch ở bệnh nhân ung thư chưa được báo cáo đầy đủ.

Nghiên cứu này lấp đầy một khoảng trống quan trọng trong y văn cho cả bác sĩ chăm sóc ban đầu và bác sĩ chuyên khoa khi chúng tôi nhấn mạnh cả xu hướng lịch sử và quan sát về các biểu hiện lâm sàng cơ bản … mà có thể ảnh hưởng đến quyết định của bệnh nhân về chăm sóc tim mạch.

Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã so sánh dân số Hoa Kỳ với 3.234.256 người sống sót sau ung thư từ cơ sở dữ liệu SEER trong giai đoạn từ năm 1973 đến 2012. Thời gian được phân tích không phản ánh những phát triển chính đã xảy ra liên quan đến liệu pháp miễn dịch. “Phân tích này không phản ánh toàn bộ thực trạng ngày nay”, Herrmann lưu ý trong bài xã luận của mình.

Trên 28 loại ung thư, 38% (1.228.328 bệnh nhân) tử vong vì ung thư và 11,3% (365.689 bệnh nhân) tử vong do bệnh tim mạch. Trong số các trường hợp tử vong liên quan đến bệnh tim mạch, 76,3% là do bệnh tim.

Đối với tất cả các bệnh ung thư, kết quả như sau:

  • Tuổi cao vào lúc chẩn đoán ung thư có liên quan đến tăng nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch.
  • Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư càng sớm, nguy cơ mắc bệnh tim càng cao.
  • Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư trước 55 tuổi, nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch cao gấp 10 lần so với dân số chung.
  • Số ca tử vong do ​​bệnh tim mạch cao nhất xảy ra trong năm đầu tiên sau chẩn đoán ung thư.
  • Tử vong do bệnh tim mạch ở tất cả các loại ung thư cao hơn so với dân số chung.

Nhóm nghiên cứu đã đánh giá các loại ung thư khác nhau. Họ tìm thấy các ca tử vong liên quan đến bệnh tim mạch cao hơn trung bình (> 11,3%) ở bệnh nhân ung thư bàng quang (19,4%), ung thư thanh quản (17,3%), ung thư tuyến tiền liệt (16,6%), ung thư tử cung (15,6%), ung thư đại trực tràng (13,7%) và ung thư vú (11,7%).

Các xu hướng của tử vong do bệnh tim mạch ở bệnh nhân ung thư đã được ghi nhận. Chín bệnh ung thư có liên quan đến tỷ lệ tử vong do ung thư cao hơn và tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch thấp hơn (<10%). Đó là: ung thư phổi, gan, não, dạ dày, túi mật, tuyến tụy, thực quản và buồng trứng, cũng như đa u tủy xương.

Theo Sturgeon và các đồng nghiệp: Những bệnh ung thư này đều liên quan đến tỷ lệ tử vong cao do ung thư.

Đối với tám bệnh ung thư có liên quan đến tiên lượng tốt (mô mềm, mũi hầu, hậu môn, hầu họng, đại trực tràng, lymphoma không Hodgkin, thận và cổ tử cung), các nhà nghiên cứu lưu ý rằng nguy cơ tử vong liên quan đến bệnh tim mạch tăng ngay cả khi tử vong do ung thư cao hơn 10% so với tử vong do bệnh tim mạch.

Đối với 11 bệnh ung thư còn lại, trong khoảng thời gian phân tích, tử vong do ung thư ngang bằng (< 10% hoặc cao hơn) hoặc cao hơn so với tử vong do bệnh tim mạch. Chúng bao gồm ung thư vú, thanh quản, tuyến giáp, tinh hoàn, tuyến tiền liệt, bàng quang và dương vật, cũng như ung thư nội mạc tử cung, khối u melanoma ác tính và lymphoma Hodgkin.

Đỉnh điểm trong năm đầu tiên sau chẩn đoán ung thư

Trong bài xã luận của mình, Herrmann lưu ý rằng nhìn chung, bệnh nhân ung thư phải đối mặt với nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch suốt đời. Nguy cơ đó đạt đến đỉnh điểm trong năm đầu tiên sau chẩn đoán ung thư. Ông cho rằng nguy cơ gia tăng trong “giai đoạn ung thư cấp tính” này thể hiện sự tương tác của bệnh tim mạch từ trước, độc tính tim mạch tiềm tàng của các liệu pháp chữa trị ung thư và nguy cơ tim mạch liên quan đến khối u.

“Nhận ra việc này là vô cùng quan trọng và điều này đã không được lưu ý qua vô số bệnh ung thư trong quá khứ”, ông viết.

Sau giai đoạn cấp tính là giai đoạn mạn tính, rơi vào thời kỳ sống sót, Herrmann lưu ý. Ông bình luận rằng giai đoạn mạn tính này đã không được ghi nhận chi tiết cho nhiều loại ung thư.

Sự tương tác ung thư và bệnh tim mạch rất quan trọng đối với tất cả bệnh nhân ung thư nhưng quan trọng nhất đối với những người tử vong do ung thư và tử vong bệnh tim mạch ngang bằng nhau, Herrmann viết.

Ông ủng hộ cách tiếp cận chủ động đối với tương tác ung thư và bệnh tim mạch, nên bắt đầu trước khi bất kỳ liệu pháp trị ung thư nào được đưa ra và điều đó nên tiếp tục suốt đời.

Herrmann là Giám đốc của Khoa ung thư – tim mạch và ông tin rằng lĩnh vực này sẽ được quan tâm hơn theo thời gian bởi vì tầm quan trọng của nó tiếp tục được công nhận.

(Dịch từ Medscape: Patients With Cancer at Increased Risk for Cardiovascular Death https://www.medscape.com/viewarticle/921823?fbclid=IwAR1zj2PvhMaQYOCIpClB5z9KGcTMi4dJqQC_zG_iCqjLcq7nBY5BmxgGwXg#vp_2)